Trong bối cảnh hoạt động xuất khẩu nông sản ngày càng đòi hỏi tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn và yêu cầu kỹ thuật từ thị trường nhập khẩu, Cục Bảo vệ thực vật đã thông tin về công tác quản lý mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu. Việc kiểm soát mã số này không chỉ nhằm đảm bảo sản phẩm được đóng gói đúng quy trình, đáp ứng yêu cầu an toàn của đối tác thương mại, mà còn góp phần nâng cao uy tín, chất lượng và tính minh bạch của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. Trong thông tin gửi đến các địa phương và doanh nghiệp, Cục Bảo vệ thực vật nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc quản lý chặt chẽ cơ sở đóng gói, từ khâu cấp mã đến giám sát thực hiện, nhằm ngăn chặn tình trạng mạo danh, gian lận và vi phạm quy định kiểm dịch thực vật – những yếu tố có thể trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu và khả năng mở rộng thị trường trong thời gian tới.

Trong thời gian vừa qua, công tác thiết lập và quản lý mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu đã ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực, tạo nền tảng quan trọng cho việc chuẩn hóa quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng nông sản và đáp ứng các yêu cầu khắt khe từ thị trường quốc tế. Tuy vậy, thực tế triển khai tại các địa phương cho thấy vẫn còn không ít hạn chế cần sớm được khắc phục. Hoạt động giám sát sau cấp mã số chưa được thực hiện đồng bộ; việc tuyên truyền, phổ biến quy định còn thiếu chiều sâu; nhiều địa phương chưa thật sự coi đây là nhiệm vụ trọng tâm; đồng thời tình trạng thông tin thiếu thống nhất, thậm chí nhiễu loạn, khiến không ít doanh nghiệp và người dân hiểu sai, gây lúng túng trong quá trình thực hiện. Trước những bất cập nêu trên và nhằm đảm bảo quá trình thiết lập, cấp và duy trì mã số vùng trồng diễn ra minh bạch, hiệu quả, Cục Bảo vệ thực vật yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh, thành phố quán triệt và triển khai đồng bộ một loạt nhiệm vụ cụ thể.

Theo đó, quy trình thiết lập và quản lý vùng trồng, cơ sở đóng gói phải được thực hiện chặt chẽ từ khâu tiếp nhận đến kiểm tra, thẩm định hồ sơ. Cơ quan chuyên môn bảo vệ và kiểm dịch thực vật tại địa phương có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ đề nghị, kiểm tra tính đầy đủ và phù hợp của từng tài liệu, đồng thời tổ chức kiểm tra thực địa để xác định điều kiện thực tế của vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói. Dựa trên kết quả kiểm tra, cơ quan chuyên môn hoàn thiện biên bản, tổng hợp hồ sơ theo yêu cầu của từng thị trường nhập khẩu và gửi về Cục Bảo vệ thực vật để xem xét. Cục sẽ tiến hành soát xét lại hồ sơ, đưa ra phản hồi đối với địa phương và tiếp tục gửi danh sách hoặc hồ sơ sang phía nước nhập khẩu theo hình thức phù hợp: gửi ngay sau khi hoàn thiện với thị trường Hoa Kỳ, hoặc gửi định kỳ theo quý đối với thị trường Trung Quốc hay theo yêu cầu riêng của từng nước. Khi nhận được thông báo phê duyệt hoặc mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói do nước nhập khẩu cấp, Cục sẽ ban hành văn bản gửi địa phương, đồng thời yêu cầu cơ quan chuyên môn địa phương thông báo công khai đến chủ sở hữu và triển khai giám sát quá trình duy trì các điều kiện đã được cấp mã số.

Bên cạnh đó, Cục Bảo vệ thực vật yêu cầu các địa phương chỉ đạo cơ quan chuyên môn thực hiện nghiêm quy trình tiếp nhận và thẩm định hồ sơ, đảm bảo tính chính xác của các thông tin về diện tích, sản lượng, sự tham gia đồng thuận của các hộ nông dân cũng như năng lực đáp ứng các điều kiện kỹ thuật của vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói. Mọi hồ sơ chưa đạt yêu cầu phải được hướng dẫn rõ ràng, tránh tình trạng người dân và doanh nghiệp phải đi lại nhiều lần. Công tác giám sát sau khi cấp mã số phải được triển khai nghiêm túc, thường xuyên theo đúng hướng dẫn của nước nhập khẩu nhằm duy trì sự tuân thủ và hạn chế tối đa rủi ro bị cảnh báo hoặc tạm dừng nhập khẩu.

Ngoài ra, các địa phương cần hướng dẫn người dân và doanh nghiệp sử dụng các nền tảng số như Nhật ký đồng ruộng và phần mềm Quản lý cơ sở đóng gói để cập nhật dữ liệu đầy đủ, phục vụ truy xuất nguồn gốc và quản lý theo chuẩn quốc tế. Việc bố trí nguồn lực phải phù hợp với điều kiện thực tế tại từng tỉnh, bảo đảm cơ quan chuyên ngành bảo vệ và kiểm dịch thực vật cấp tỉnh đóng vai trò nòng cốt trong triển khai nhiệm vụ.

Cục cũng đề nghị các địa phương tăng cường truyền thông về các quy định liên quan đến kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm, vùng trồng và cơ sở đóng gói. Những video hướng dẫn về quy trình thiết lập, giám sát và xử lý vi phạm đã được Cục cung cấp cần được phối hợp phổ biến rộng rãi trên các đài phát thanh, truyền hình và báo chí địa phương, giúp người dân và doanh nghiệp hiểu đúng, làm đúng. Đồng thời, hằng năm các Sở Nông nghiệp phải xây dựng kế hoạch tập huấn cho các tổ chức, cá nhân liên quan để nâng cao năng lực thực thi.

Cục Bảo vệ thực vật đề nghị các Sở Nông nghiệp và PTNT nghiêm túc triển khai các nội dung nêu trên. Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh vướng mắc, các địa phương cần chủ động liên hệ với Cục để phối hợp xử lý kịp thời, nhằm bảo đảm hệ thống quản lý mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói được vận hành thống nhất, minh bạch và đáp ứng đúng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *