Trong bối cảnh nông sản Việt Nam ngày càng hướng mạnh ra thị trường quốc tế, khái niệm “mã số vùng trồng” trở thành tâm điểm quan tâm của cả cơ quan quản lý, doanh nghiệp lẫn người sản xuất. Mã số vùng trồng là gì và đóng vai trò ra sao trong chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại? Đây không chỉ đơn thuần là mã định danh cho một khu vực canh tác mà còn là công cụ quan trọng giúp kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các yêu cầu khắt khe của những thị trường nhập khẩu lớn. Để góp phần tăng cường hiệu quả công tác quản lý mã số vùng trồng, việc xác định rõ các nhiệm vụ cần thực hiện là điều kiện tiên quyết, bởi chỉ khi được quản lý chặt chẽ, đồng bộ và minh bạch thì mã số vùng trồng mới thật sự phát huy vai trò là nền tảng cho sản xuất an toàn, bền vững và xuất khẩu chính ngạch.

Mã số vùng trồng theo quy định tại khoản 1 Điều 64 Luật Trồng trọt 2018 được hiểu là mã định danh dành cho một khu vực sản xuất nông nghiệp nhằm phục vụ công tác theo dõi diễn biến sản xuất, kiểm soát chất lượng nông sản và truy xuất nguồn gốc sản phẩm cây trồng. Đây là công cụ quan trọng tạo nên sự minh bạch trong chuỗi giá trị, đồng thời giúp cơ quan quản lý và đối tác nhập khẩu nắm bắt chính xác thông tin về vùng canh tác, điều kiện sản xuất và mức độ tuân thủ các tiêu chuẩn kiểm dịch thực vật.
Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Công văn 1776/BNN-BVTV năm 2023 nhằm hướng dẫn cấp và quản lý mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Trong thời gian chờ hoàn thiện các hướng dẫn chi tiết theo Điều 64 của Luật Trồng trọt, Bộ yêu cầu các đơn vị liên quan tập trung thực hiện nhiều nhiệm vụ trọng tâm để bảo đảm hiệu quả công tác quản lý. Đây là nền tảng giúp hệ thống mã số vùng trồng vận hành đồng bộ, ngăn ngừa gian lận trong xuất khẩu, nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe từ các nước nhập khẩu.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh, thành phố được yêu cầu giao nhiệm vụ cụ thể và chỉ đạo cơ quan chuyên môn về bảo vệ và kiểm dịch thực vật tại địa phương triển khai toàn diện công tác thiết lập, kiểm tra thực tế, hoàn thiện hồ sơ, cấp mã số và duy trì các điều kiện kỹ thuật đối với những vùng trồng và cơ sở đóng gói đã được cấp mã số. Các thông tin liên quan đến diện tích, sản lượng, mức độ đồng thuận của các hộ nông dân tham gia vùng trồng cùng toàn bộ yêu cầu kỹ thuật phải được cơ quan chuyên môn kiểm tra, xác minh kỹ lưỡng trước khi tổng hợp và báo cáo về Cục Bảo vệ thực vật, đồng thời cơ quan này cũng phải lưu trữ đầy đủ hồ sơ và chịu trách nhiệm về tính chính xác của toàn bộ dữ liệu. Đối với hoạt động xuất khẩu, các địa phương phải rà soát các mã số đã cấp, đối chiếu yêu cầu của từng thị trường nhập khẩu, lập danh sách gửi Cục Bảo vệ thực vật để chuyển đến nước nhập khẩu xem xét và phê duyệt. Trong quá trình thẩm định, nước nhập khẩu có thể tiến hành kiểm tra trực tiếp hoặc trực tuyến trước khi chấp thuận mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói.
Song song với đó, cơ quan chuyên môn địa phương phải giải quyết kịp thời các hồ sơ đề nghị từ chủ sở hữu hoặc đại diện vùng trồng, cơ sở đóng gói trên tinh thần minh bạch và trách nhiệm, hướng dẫn rõ ràng nếu hồ sơ chưa đạt yêu cầu nhằm tránh tình trạng người dân, doanh nghiệp phải đi lại nhiều lần. Công tác giám sát cũng được yêu cầu triển khai nghiêm túc, định kỳ tối thiểu một lần mỗi năm và đối với vùng trồng phải được thực hiện trước vụ thu hoạch. Kết quả giám sát phải được báo cáo hàng quý về Cục Bảo vệ thực vật. Những trường hợp không đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu, vi phạm nhiều lần quy định về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm hoặc phát hiện gian lận, tranh chấp trong việc sử dụng mã số sẽ bị thu hồi mã số đã cấp. Cùng với đó, các địa phương phải cập nhật đầy đủ dữ liệu trên hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về vùng trồng và cơ sở đóng gói xuất khẩu, đồng thời hướng dẫn nông dân và doanh nghiệp sử dụng phần mềm Nhật ký đồng ruộng và phần mềm Quản lý cơ sở đóng gói để bảo đảm cung cấp thông tin theo đúng quy định của từng thị trường nhập khẩu. Ngoài ra, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các địa phương phải chủ động quy hoạch và thiết lập các vùng trồng, cơ sở đóng gói đủ điều kiện cấp mã số, tăng cường kiểm soát và thúc đẩy liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp xuất khẩu để bảo đảm quyền lợi cho các bên.

Nguồn lực phục vụ công tác thiết lập và quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói cần được bố trí phù hợp với tình hình thực tế, giao cơ quan chuyên ngành về bảo vệ và kiểm dịch thực vật cấp tỉnh làm đầu mối triển khai. Công tác tuyên truyền và tập huấn cho người dân, doanh nghiệp về các quy định và giải pháp kỹ thuật phải được đẩy mạnh nhằm giúp địa phương đáp ứng đầy đủ yêu cầu của nước nhập khẩu. Đồng thời, các tỉnh, thành phố cần chủ động thanh tra, kiểm tra hoạt động cấp và quản lý mã số vùng trồng trên địa bàn, kịp thời báo cáo Cục Bảo vệ thực vật khi phát hiện vi phạm hoặc gian lận. Việc phối hợp với Cục Bảo vệ thực vật cũng phải được thực hiện chặt chẽ trong xử lý các trường hợp không tuân thủ theo thông báo của nước nhập khẩu, bao gồm cả việc tham gia kiểm tra thực tế trực tiếp hoặc trực tuyến theo yêu cầu định kỳ hoặc đột xuất từ phía nước nhập khẩu.
Cục Bảo vệ thực vật có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và kịp thời các thông tin liên quan đến quy định của nước nhập khẩu về kiểm dịch thực vật và an toàn thực phẩm, giúp các địa phương, tổ chức và cá nhân có nhu cầu xuất khẩu nắm rõ yêu cầu của từng thị trường, chủ động điều chỉnh quy trình sản xuất cũng như chuẩn bị hồ sơ phù hợp. Các thông tin này được xem là cơ sở quan trọng để các vùng trồng và cơ sở đóng gói triển khai đúng quy định, hạn chế rủi ro bị từ chối hoặc đình chỉ xuất khẩu do không đáp ứng tiêu chuẩn kiểm dịch của nước nhập khẩu. Đồng thời, Cục Bảo vệ thực vật cũng đóng vai trò đầu mối trong việc tổng hợp danh sách các mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói được các địa phương đề nghị, sau đó tiến hành đàm phán với cơ quan chức năng của nước nhập khẩu để xin phê duyệt và cấp mã số. Quá trình này nhằm bảo đảm các mã số của Việt Nam được ghi nhận chính thức, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu nông sản, nâng cao uy tín của sản phẩm và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận ổn định, bền vững với các thị trường quốc tế.
