Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm, mã số vùng trồng đã trở thành điều kiện bắt buộc đối với mọi loại nông sản muốn xuất khẩu chính ngạch ra thế giới. Không còn là khái niệm mang tính kỹ thuật đơn thuần, mã vùng trồng giờ đây được xem như “giấy thông hành” đảm bảo tính minh bạch, chất lượng và uy tín của nông sản Việt Nam khi bước vào các thị trường khó tính. Việc sở hữu mã số vùng trồng không chỉ thể hiện sự chuyên nghiệp của người sản xuất mà còn là cam kết về quy trình canh tác an toàn, tuân thủ quy định kiểm dịch thực vật và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày một gay gắt, đây chính là yêu cầu không thể bỏ qua nếu Việt Nam muốn nâng cao giá trị xuất khẩu và củng cố thương hiệu nông sản trên bản đồ thương mại toàn cầu.

Mã số vùng trồng, hay còn gọi là mã số đơn vị sản xuất (Production Unit Code – PUC), được xem là “chứng minh thư” của từng vùng canh tác khi tham gia vào chuỗi cung ứng nông sản xuất khẩu. Đây là hệ thống mã định danh được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa mã quốc gia, mã tỉnh thành, mã quận huyện, mã xã phường và số thứ tự theo danh sách do Cục Bảo vệ thực vật phê duyệt. Việc cấp mã số vùng trồng không chỉ giúp theo dõi, kiểm soát quá trình sản xuất mà còn là điều kiện bắt buộc để nông sản được thông quan vào các thị trường nhập khẩu. Quan trọng nhất, mã vùng trồng cho phép truy xuất nguồn gốc nhanh chóng và chính xác, cung cấp đầy đủ thông tin về nguồn sản phẩm, địa điểm sản xuất và chủ thể canh tác, qua đó ngăn ngừa tình trạng trà trộn sản phẩm không rõ nguồn gốc vào vùng đã được cấp mã. Bên cạnh đó, mã vùng trồng giúp giám sát chặt chẽ quy trình canh tác thông qua sổ tay ghi chép và hệ thống báo cáo kỹ thuật về loại cây trồng, diện tích, sản lượng, giai đoạn sinh trưởng cũng như toàn bộ lịch sử sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Thông tin này là cơ sở để cơ quan chuyên môn tiến hành kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất, đảm bảo vùng trồng tuân thủ đúng yêu cầu kỹ thuật. Cuối cùng, nhờ hệ thống mã vùng trồng, chất lượng nông sản được kiểm soát đồng bộ theo tiêu chuẩn của nhà phân phối. Khi sản phẩm không đạt yêu cầu, việc truy xuất nguồn gốc giúp xác định chính xác khâu xảy ra sai sót để nhà sản xuất và đơn vị phân phối kịp thời điều chỉnh, bảo vệ uy tín của cả chuỗi cung ứng và nâng cao chất lượng nông sản trước khi đến tay người tiêu dùng.

Việc thiết lập vùng trồng theo Tiêu chuẩn cơ sở TCCS 774:2020/BVTV được quy định với hệ thống yêu cầu rõ ràng nhằm đảm bảo nông sản đáp ứng tiêu chuẩn kiểm dịch thực vật của các thị trường nhập khẩu. Trước hết, yêu cầu về diện tích vùng trồng được xác định tùy theo từng loại cây trồng, trong đó cây ăn quả phải có diện tích tối thiểu 10 ha, rau gia vị căn cứ vào diện tích thực tế của nhà lưới hoặc nhà kính và điều kiện phía nước nhập khẩu, còn các nhóm cây trồng khác sẽ tuân thủ theo đúng yêu cầu riêng của từng thị trường. Trong trường hợp quốc gia nhập khẩu yêu cầu vùng đệm hoặc các quy định đặc thù về diện tích thì vùng trồng bắt buộc phải đáp ứng theo tiêu chuẩn này. Song song với đó, việc quản lý sinh vật gây hại phải tuân thủ yêu cầu kiểm dịch thực vật của nước nhập khẩu, mỗi khi phát hiện đối tượng kiểm dịch phải triển khai ngay các biện pháp xử lý phù hợp. Việc quản lý từng nhóm sinh vật gây hại cũng được hướng dẫn chi tiết và cần thực hiện nghiêm túc theo chỉ đạo của cơ quan chuyên ngành bảo vệ và kiểm dịch thực vật. Đối với sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, vùng trồng chỉ được phép sử dụng các loại thuốc có trong danh mục được phép lưu hành tại Việt Nam đồng thời phải đảm bảo không sử dụng hoạt chất bị cấm theo quy định của nước nhập khẩu. Mọi hoạt động sử dụng thuốc đều phải tuân thủ nguyên tắc bốn đúng, thực hiện đúng liều lượng, thời gian cách ly và hướng dẫn của nhà sản xuất nhằm đảm bảo dư lượng không vượt ngưỡng cho phép. Bên cạnh đó, vùng trồng phải có sổ tay ghi chép đầy đủ, bao gồm nhật ký canh tác với toàn bộ hoạt động tác động lên cây trồng trong suốt vụ sản xuất. Những thông tin quan trọng như giai đoạn sinh trưởng, phát hiện sinh vật gây hại, lịch bón phân, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, sản lượng thu hoạch dự kiến và thực tế đều phải được ghi chép ngay sau mỗi lần thực hiện để đảm bảo tính minh bạch và phục vụ truy xuất nguồn gốc. Cuối cùng, vùng trồng phải đáp ứng yêu cầu về điều kiện canh tác, áp dụng thực hành nông nghiệp tốt (GAP), chú trọng vệ sinh đồng ruộng, thu dọn tàn dư cây trồng bị nhiễm sâu bệnh và thực hiện thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật, phân bón đúng quy định, từ đó góp phần hình thành vùng sản xuất an toàn, bền vững và đáp ứng chuẩn mực quốc tế.

Quy trình kiểm tra và đánh giá vùng trồng để cấp mã số theo Tiêu chuẩn cơ sở TCCS 774:2020/BVTV được triển khai với các bước chặt chẽ nhằm đảm bảo vùng sản xuất đáp ứng đầy đủ yêu cầu kiểm dịch thực vật của thị trường nhập khẩu. Trước hết, tổ chức hoặc cá nhân phải gửi tờ khai kỹ thuật đề nghị cấp mã số vùng trồng cùng toàn bộ thông tin cần thiết theo mẫu của Cục Bảo vệ thực vật đến Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Chi cục sẽ tiến hành kiểm tra thực địa, bao gồm khảo sát khu vực sản xuất, đánh giá điều kiện canh tác và lấy mẫu kiểm tra thành phần sinh vật gây hại trong trường hợp chưa xác định được đối tượng cụ thể tại thời điểm kiểm tra, từ đó xác định mức độ đáp ứng các yêu cầu của tiêu chuẩn cơ sở. Kết quả kiểm tra sẽ được Chi cục lập báo cáo chi tiết, đính kèm biên bản thực địa và gửi về Cục Bảo vệ thực vật để xem xét. Nếu vùng trồng đáp ứng tiêu chuẩn, hồ sơ sẽ được đề nghị cấp mã số; ngược lại, các tổ chức, cá nhân sẽ được hướng dẫn khắc phục những điểm chưa đạt và chờ kiểm tra lại.
Trên cơ sở báo cáo từ địa phương, Cục Bảo vệ thực vật tiến hành rà soát và cấp mã số vùng trồng đạt yêu cầu, đồng thời gửi thông tin mã số sang cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu để phê duyệt. Khi mã số được chấp thuận, Cục sẽ thông báo lại cho Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh để quản lý và giám sát vùng trồng theo quy định. Thực tế tại Bạc Liêu cho thấy địa phương đang xây dựng kế hoạch cấp mã số vùng trồng cho các nông sản chủ lực như lúa, cây ăn trái và rau màu, nhằm ưu tiên hoàn thiện hồ sơ cho những mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu lớn. Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào kinh tế thế giới, thị trường rộng mở nhưng cạnh tranh gay gắt cùng hàng loạt rào cản kỹ thuật từ các nước nhập khẩu, việc sản xuất nông sản theo chuỗi kiểm soát chất lượng từ canh tác đến tiêu thụ trở thành yêu cầu tất yếu.
Tiêu chuẩn cơ sở về Quy trình thiết lập và giám sát vùng trồng, được ban hành theo Quyết định số 2481/QĐ-BVTV-KH ngày 30/11/2020, vẫn còn khá mới với nhiều địa phương. Chính vì vậy, tỉnh Bạc Liêu đang tích cực khuyến khích và hỗ trợ tổ chức, cá nhân tham gia đăng ký cấp mã số nhằm xây dựng vùng sản xuất đạt chuẩn phục vụ xuất khẩu. Việc hình thành mã số vùng trồng không chỉ đóng vai trò như tấm vé thông hành để nông sản tiếp cận thị trường quốc tế mà còn gắn với trách nhiệm đảm bảo an toàn thực phẩm của người sản xuất, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, nhà phân phối và nhà sản xuất để nâng cao chất lượng và uy tín nông sản Việt.
