Ngày 7/10, tại Hà Nội, Tạp chí Kinh Doanh cùng Viện Khoa học Kinh tế Hợp tác, Liên minh HTX Việt Nam tổ chức Diễn đàn “Chuyển đổi số trong Hợp tác xã: Từ dữ liệu, quản trị đến thị trường”.
Diễn đàn nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; Chương trình hành động số 01-Ctr/ĐU ngày 17/3/2025 của Đảng ủy Liên minh HTX Việt Nam thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW; Kế hoạch số 1430 ngày 05/9/2026 của Liên minh HTX Việt Nam ban hành Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số; Đồng thời Chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc Liên minh HTX Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026 – 2031; Hướng đến Kỷ niệm 33 năm Ngày thành lập Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (29/10/1993 – 29/10/2026).
Dữ liệu phải trở thành nền tảng của chuyển đổi số
Phát biểu bế mạc, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Cao Xuân Thu Vân khẳng định, Diễn đàn hôm nay mang lại nhiều điều rất mới, đặc biệt là sự tham gia và đóng góp những ý kiến thiết thực từ chính các HTX. Các tham luận và ý kiến đã đi thẳng vào những vấn đề cốt lõi mà các HTX đang rất cần giải quyết: từ việc thiếu dữ liệu chuẩn, hạn chế về năng lực, tài chính, cho đến những khó khăn trong việc lựa chọn công nghệ cũng như khả năng kết nối giữa công nghệ với sản xuất và thị trường.
Điều quan trọng hơn hết là chúng ta cần thống nhất một cách tiếp cận chuẩn xác. Chuyển đổi số không đơn thuần là đưa các quy trình hiện có lên môi trường điện tử, càng không phải là mua thêm một phần mềm. Chuyển đổi số là tổ chức lại toàn bộ hoạt động quản trị, sản xuất, kinh doanh dựa trên dữ liệu để tạo ra hiệu quả và mở rộng thị trường. Điều này nghĩa là chúng ta phải xuất phát từ nhu cầu thực tế, tuyệt đối không dựa dẫm vì không ai có thể làm thay mình. Các công ty công nghệ hay đơn vị bán phần mềm thì mục tiêu cuối cùng của họ cũng là lợi nhuận.
Lý do nhiều đơn vị muốn kết nối với hệ thống HTX là bởi vì khi tập hợp được 35.000 HTX, chúng ta đang sở hữu một kho dữ liệu khổng lồ. Nếu kết nối được dữ liệu của 7 triệu thành viên nữa, lượng thông tin sẽ cực kỳ lớn. Tuy nhiên, bài toán đặt ra là chúng ta quản trị khối dữ liệu đó thế nào để tất cả cùng có lợi. Trong thực tế, không ai tự nhiên làm không cho mình. Nếu HTX không nắm vững, không có năng lực tự thân từ nội lực thì cuộc chuyển đổi số đó khó có thể thành công.
Từ kết quả của diễn đàn hôm nay, chúng ta có thể rút ra 5 bài học kinh nghiệm quan trọng:
Thứ nhất, chuyển đổi số phải bắt đầu từ nhu cầu thực tế chứ không phải bắt đầu từ công nghệ. Để làm được điều này, mỗi HTX cần tự trả lời rõ câu hỏi: Vấn đề mình cần giải quyết là gì, là quản trị thành viên, quản trị vùng nguyên liệu hay truy xuất nguồn gốc? Mục tiêu là giảm chi phí, kiểm soát chất lượng hay tìm kiếm thị trường? Chỉ khi xác định đúng bài toán thì mới lựa chọn công nghệ phù hợp. Chuyển đổi số không nhất thiết phải bắt đầu bằng một khoản đầu tư lớn, nhưng nhất thiết phải bắt đầu bằng một nhu cầu thật, một mục tiêu rõ ràng và một kết quả có thể đo đếm được.
Thứ hai, dữ liệu phải trở thành nền tảng của chuyển đổi số. Dữ liệu về thành viên, vùng nguyên liệu, hộ phụ trách, sản lượng, quy trình sản xuất, chất lượng, chứng nhận, đơn hàng, khách hàng và thị trường cần từng bước được chuẩn hóa. Khi có dữ liệu và phần mềm hỗ trợ, chúng ta không cần ghi nhớ thủ công mà chỉ cần một thao tác bấm nút là có kết quả. Dữ liệu giúp chúng ta hiểu rõ khách hàng đến với mình lúc nào, khi nào họ quay lại và tại sao họ chọn hợp tác. Dù vậy, không nên để mỗi HTX trở thành một “ốc đảo dữ liệu”. Chúng ta cần nghiên cứu các nền tảng, công cụ dùng chung để HTX kết nối dữ liệu thuận lợi với doanh nghiệp, hệ thống phân phối và các chủ thể trong chuỗi giá trị, đồng thời phải đảm bảo an toàn, bảo mật và quyền sở hữu dữ liệu.
Thứ ba, chuyển đổi số phải lấy hiệu quả làm thước đo. Không thể đánh giá chuyển đổi số bằng việc HTX được trang bị bao nhiêu thiết bị hay cài đặt bao nhiêu phần mềm, mà phải trả lời được các câu hỏi thiết thực: Quản trị có tốt hơn không, chi phí có giảm không, năng suất và chất lượng có tăng lên không, truy xuất nguồn gốc có minh bạch hơn không, thị trường có mở rộng không, và thu nhập của HTX cùng thành viên có tăng thêm không? Nếu chưa trả lời được những câu hỏi đó thì chuyển đổi số vẫn chưa đạt được mục tiêu cuối cùng.
Thứ tư, thị trường phải trở thành động lực kéo chuyển đổi số. HTX chuyển đổi số không phải để “có công nghệ”, mà là để sản xuất tốt hơn và bán hàng hiệu quả hơn. Doanh nghiệp và các hệ thống phân phối cần làm rõ thị trường đang cần tiêu chuẩn gì, dữ liệu gì, truy xuất ra sao, chất lượng và sản lượng thế nào. Từ nhu cầu đó, HTX sẽ tổ chức lại sản xuất và lựa chọn giải pháp số phù hợp. Đặc biệt, với các sản phẩm OCOP, sản phẩm chủ lực tham gia chuỗi giá trị, cần kết nối đồng bộ giữa dữ liệu sản xuất, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử, thanh toán, logistics và thị trường.
Thứ năm, phải xây dựng hệ sinh thái đồng hành cùng HTX. Một HTX — nhất là các HTX quy mô nhỏ — không thể tự mình giải quyết toàn bộ bài toán về công nghệ, vốn, nhân lực và thị trường. Trong hệ sinh thái này, Nhà nước tạo lập thể chế và chính sách; hệ thống Liên minh đóng vai trò cầu nối; doanh nghiệp công nghệ cung cấp giải pháp phù hợp; các tổ chức tài chính hỗ trợ nguồn lực; hệ thống phân phối mở đường ra thị trường; và bản thân HTX phải chủ động thay đổi tư duy cùng cách thức quản trị. Không một chủ thể nào có thể đơn độc làm một mình.
Nếu như các doanh nghiệp chuyển đổi số, công nghệ số có giải pháp, ngược lại, phía các HTX thành viên cũng liên tục hỏi xem có nơi nào hỗ trợ chuyển đổi số hay không. Ở chiều thứ ba, người tiêu dùng khi trải nghiệm các sản phẩm chất lượng của HTX lại phản ánh rằng muốn mua tiếp nhưng không biết mua ở đâu. Nhu cầu từ các bên là rất lớn nhưng chúng ta lại chưa gặp được nhau, và chỉ có chuyển đổi số mới xử lý triệt để được bài toán này.
Tuy nhiên, muốn thành công thì tất cả chúng ta phải hiểu đúng và hành động đồng bộ. Trong nội tại, chúng ta không thể vừa muốn có công nghệ lại vừa sợ lộ bí mật, sợ mất dữ liệu hay lo lắng về các quy định cấp phép. Khi đã muốn làm, chúng ta phải chủ động làm việc với các cơ quan chức năng, các bộ ngành chuyên môn như C06 Bộ Công an để nhận hướng dẫn và đưa ra chuẩn chuyển đổi số an toàn, đúng quy định.
Ngay sau diễn đàn này, điều quan trọng nhất là phải biến những nội dung trao đổi thành hành động cụ thể. Tôi đề nghị hệ thống Liên minh HTX Việt Nam tập trung triển khai ngay các nhóm nhiệm vụ trọng tâm.
Trước hết, các ban chuyên môn cần tổng hợp đầy đủ các đề xuất, kiến nghị tại diễn đàn, phân loại rõ ràng các vấn đề về cơ chế, chính sách, dữ liệu, công nghệ, tài chính, nhân lực và thị trường để đề xuất lên cơ quan có thẩm quyền, đồng thời trực tiếp tổ chức thực hiện trong phạm vi trách nhiệm của mình.
Thứ hai, phải gắn kết quả diễn đàn hôm nay với kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số, lựa chọn những công việc có thể triển khai ngay để kết quả không chỉ dừng lại trên văn bản hay nghị quyết.
Thứ ba, khẩn trương nghiên cứu, hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá mức độ chuyển đổi số của HTX, làm cơ sở phân nhóm, xác định chính xác nhu cầu để lựa chọn giải pháp hỗ trợ phù hợp và đo lường kết quả thực tế.
Thứ tư, thúc đẩy hình thành các mô hình chuyển đổi số điểm có thể đo lường hiệu quả với sự tham gia của 4-5 “nhà” gồm HTX, doanh nghiệp công nghệ, tổ chức tài chính và đơn vị phân phối, từ đó rút kinh nghiệm để nhân rộng. Chúng ta có thể linh hoạt các cơ chế, như phân bổ nguồn vốn nhỏ của HTX vào đúng mục đích, hoặc đề xuất doanh nghiệp công nghệ hỗ trợ phần mềm 0 đồng trong 1 đến 3 năm đầu trước khi tính phí.
Thứ năm, tăng cường đào tạo kỹ năng theo từng nhóm đối tượng từ cán bộ quản trị, cán bộ vận hành đến các thành viên HTX, đảm bảo đào tạo sát với thực tế công việc, tránh lý thuyết suông.
Đối với các HTX tham dự diễn đàn, ngay khi trở về địa phương, HTX hãy chọn ít nhất một việc cụ thể để bắt tay vào làm ngay. Đó có thể là chuẩn hóa dữ liệu thành viên, số hóa nhật ký sản xuất, thực hiện truy xuất nguồn gốc, quản lý đơn hàng, mở thêm kênh bán hàng số, hoặc chủ động kết nối với một doanh nghiệp công nghệ, một tổ chức tài chính hay hệ thống phân phối như Saigon Co.op, MISA cùng các đối tác.
“Chúng ta không bắt đầu bằng những kế hoạch quá lớn lao, mà hãy bắt đầu từ một việc làm thực tế, làm đến nơi đến chốn, đo lường được kết quả rồi từng bước mở rộng”, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Cao Xuân Thu Vân nhấn mạnh.
Liên minh HTX Việt Nam xác định chuyển đổi số là công cụ then chốt để thực hiện thắng lợi các mục tiêu nhiệm kỳ. Liên minh HTX Việt Nam tiếp tục phát huy tốt vai trò cầu nối, đồng hành, huy động mọi nguồn lực và phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp để hỗ trợ HTX tiếp cận thuận lợi nhất về chính sách, dữ liệu, công nghệ, tài chính, nhân lực và thị trường.
Sau diễn đàn, các HTX cũng chuyển từ nhận thức sang hành động, từ ứng dụng riêng lẻ sang kết nối hệ sinh thái, từ đầu tư công nghệ sang tạo ra hiệu quả, và từ dữ liệu sản xuất hướng đến mở rộng thị trường. Mục tiêu cuối cùng là chuyển đổi số phải mang lại kết quả cụ thể: HTX quản trị tốt hơn, sản xuất hiệu quả hơn, sản phẩm bán tốt hơn và thu nhập của thành viên được nâng cao. Đó chính là thước đo duy nhất cho sự thành công của kinh tế tập thể, HTX.
Giải đáp thiết thực với những vấn đề HTX vướng mắc
Hiện, xu thế thị trường đòi hỏi minh bạch dữ liệu để vừa giúp người sử dụng biết rõ về sản phẩm, vừa phục vụ truy xuất nguồn gốc, để khi xảy ra sự cố về an toàn thực phẩm thì có thể điều tra nguyên nhân ở đâu, khâu nào?
Theo ông Ngô Xuân Nam, Văn phòng SPS Việt Nam, giải pháp cho vấn đề này:
Quyết định số 534/QĐ-TTg ngày 19/6/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Nâng cao hiệu quả thực thi Hiệp định về áp dụng các biện pháp vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động, thực vật (SPS), trong đó có nhiệm vụ xây dựng dữ liệu về an toàn thực phẩm. Nghị định này sẽ tiếp nối đến doanh nghiệp, HTX để xây dựng cơ sở dữ liệu, sau đó được cập nhật, số hóa phục vụ tra cứu các thông tin mới nhất của thị trường.
Văn phòng SPS Việt Nam đang là đầu mối về các vấn đề truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm nên rất mong nhận được sự phối hợp của Liên minh HTX Việt Nam để tổ chức các hội thảo, đào tạo để nâng cao năng lực cho các HTX. Bởi đa số nông sản, hàng hóa hiện nay do nông dân, HTX sản xuất.
Đại diện Công ty Misa, cho biết liên kết vận hành chuyển đổi số với HTX thì các đại lý, nhà phân phối, người tiêu dùng không chỉ quan tâm HTX bán sản phẩm gì mà quan tâm HTX làm ra sao, truy xuất như nào, có đáp ứng được chất lượng và số lượng hàng hóa hay không?
Nếu chuyển đổi số, HTX giảm được áp lực về sổ sách. Khi chuyển đổi số bằng các phần mềm, HTX sẽ quản lý được hàng hóa một cách thuận lợi.
Misa có thể hỗ trợ HTX quản lý tập trung hàng hóa từ tồn kho, số lượng, vận hành… Ngoài ra, hiện nay, AI đang phát triển. Trước đây, AI chỉ làm những hình ảnh, video nhưng nay có thể hỗ trợ cả con người về vấn đề đưa ra các quyết định.
Do đó, khi ứng dụng AI, HTX ứng dụng AI vào tư vấn bán hàng, hỗ trợ HTX bán hàng online, giúp HTX thay thế con người, không phải tiếp xúc trực tiếp với khách hàng.
Dữ liệu phân tích bán hàng tồn kho, AI cũng có thể giúp HTX, từ đó HTX có thể dự báo cung cầu từ các dữ liệu khác nhau, giúp HTX có kế hoạch sản xuất rõ ràng.
Các HTX ưu tiên sử dụng các giải pháp công nghệ một cách phù hợp, không tin hoàn toàn, chay theo AI nhưng cũng không nên sợ hãi trước sự phát triển của AI. Điều đặt ra hiện nay là các ứng dụng AI cần đơn giản, phù hợp với năng lực của HTX, hạn chế sử dụng AI một cách dàn trải.
39 phút trước
Những ý kiến trao đổi thẳng thắn
Ông Bùi Khánh Dũng – Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần MUSA PACTA:
Tính minh bạch là quan trọng nhất, bởi các chứng chỉ VietGAP hay Global GAP chỉ là tờ chứng nhận ngay thời điểm đó.
Con người có thể sai nhưng số liệu không thể sai được, cho nên tính minh bạch sẽ chiếm lợi thế. Thứ hai là nông nghiệp có chi phí rất khó tính đếm và định lượng. Bởi có những hao hụt không thể định lượng nổi. Ví dụ như sản phẩm có sương muối sản lượng có thể hao hụt 50%. Nhưng khi ứng dụng chuyển đổi số biết là sản phẩm hao hụt ở đâu. Vì vậy, chuyển đổi số rất quan trọng trong sản xuất kinh doanh.
Ông Nguyễn Quốc Huy, Chủ tịch HĐQT HTX Nấm Tam Đảo:
Đã có những ứng dụng nào HTX ứng dụng nhưng bị bỏ dở?
Có phần mềm kế toán trước đó HTX bỏ dở vì chưa tối ưu. Sau HTX chuyển sang phần mềm Misa, rất tối ưu.
Trước đay, cách quản lý hàng hóa truyền thống không hiệu quả, nhưng nay, HTX có phần mềm quản lý bán hàng đa kênh, vừa xuất hóa đơn, vận đơn, quét mã đơn hàng, quản lý đơn hàng, đơn hàng thành công tự báo về để xuất hóa đơn. Đơn hàng nào hủy cũng báo về. Điều này rất tối ưu, giúp HTX đảm bảo các quy định hàng hóa về thuế, kế toán…
Điều quan trọng hiện nay là làm sao tối ưu được chi phí. HTX đang tổ chức chương trình nông dân livestream cùng thực hiện trên Fanpage, Facebook, giúp giảm áp lực phí sàn, tối ưu hiệu quả bán hàng.
Ông Nguyễn Hoàng Linh, Giám đốc HTX nghiên cứu ứng dụng và phát triển Nông nghiệp thông minh:
Qua thực tế đồng hành cùng các HTX, việc thu thập dữ liệu hay biến dữ liệu thành quyết định, vấn đề nào khó khăn với HTX nhất?
HTX nông nghiệp đang đối mặt với già hoá dân số, do đó, việc ứng dụng công nghệ, thu thập dữ liệu hiện nay rất khó khăn, hầu như nhờ các đơn vị tư vấn xây dựng hồ sơ.
Thực tế, rất nhiều HTX không chú trọng việc ghi chép nhật ký, HTX rất ngại nhập dữ liệu. Do đó, chúng tôi phải đơn giản hoá việc nhập dữ liệu, xử lý dữ liệu
Đối với các phần mềm phục vụ cho HTX, việc ứng dụng AI là bắt buộc để HTX thuận tiện nhất việc vận hành và sử dụng, cần phải có sự tập huấn, mở các lớp học sử dụng AI cho các HTX. Chúng tôi cũng đã thiết kế, xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc xuất xứ cho HTX, mặc dù bà con làm tương đối, nhưng để làm tốt cần mất rất nhiều thời gian.
Nếu như HTX ngày mai mới bắt đầu chuyển đổi số cần bắt đầu từ đâu?
Ông Nguyễn Quốc Huy: Việc đầu tiên cần làm ngay là minh bạch số và cập nhật số ngay từ đầu.
Ông Nguyễn Hoàng Linh: Đổi mới tư duy về chuyển đổi số và có lộ trình về chuyển đổi số. Sau đó nghiên cứu thị trường cung cấp dịch vụ chuyển đổi số.
Bà Nguyễn Thị Kim Dung: Đối với chuyển đổi số của HTX cần chuẩn hoá truy xuất nguồn gốc và năng lực cung ứng, sản lượng, giá cả
Ông Bùi Khánh Dũng: Lĩnh vực đầu tiên về chuyển đổi số, chúng tôi muốn làm là bài toán nhân sự, đây là vấn đề rất “cam go” đối với các HTX.
Ông Nguyễn Hùng Tiến: Việc đầu tiên HTX cần chuẩn bị là nếu vốn ít (dưới 100 triệu) cần đầu tư vào chuyển đổi số cho sản xuất kinh doanh. Nếu HTX có vốn lớn để đầu tư chuyển đổi số thì xây dựng kế hoạch chuyển đổi số thành dự án.
Chuyển đổi số càng sớm thì hiệu quả kinh doanh càng cao. Vì vậy, các HTX cần khẩn trương tiếp cận với Quỹ hỗ trợ phát triển HTX để chuyển đổi số trong sản xuất kinh doanh.
59 phút trước
Mở hướng thắt chặt mối liên kết hợp tác giữa DN – HTX
Thương mại điện tử có phải là vấn đề khó mà HTX đang gặp phải, cần cơ chế như thế nào để đảm bảo sự hài hòa giữa HTX, sàn thương mại điện tử?
Theo ông Nguyễn Quốc Huy, Chủ tịch HĐQT HTX Nấm Tam Đảo, nhiều HTX có sản phẩm OCOP, có sản phẩm tươi sống có thể bán ở chợ truyền thống nhưng khi đưa lên sàn với giá cao hơn với giá ở chợ truyền thống thì người mua sẽ có đánh giá, so sánh và HTX rất khó bán hàng.
Do đó, cần có các chính sách từ sàn thương mại điện tử làm sao đảm bảo tỷ lệ lợi nhuận cần được tính toán để hài hóa lợi ích giữa nhà sản xuất và sàn thương mại điện tử, vừa kích cầu được tiều dùng.
Nếu các HTX muốn đưa sản phẩm vào chuỗi hệ thống siêu thị Saigon Co.op cần đáp ứng điều kiện gì?
Bà Nguyễn Thị Kim Dung cho rằng, điều kiện quan trọng nhất đó là hồ sơ pháp lý. Sau khi đủ pháp lý, HTX sẽ chuyển đến siêu thị để “chào hàng”. Nếu trước đây, HTX hồ sơ giấy, mỗi sản phẩm có 1 tên hồ sơ nên cần rất nhiều hồ sơ, nhưng hiện nay đã áp dựng công nghệ nên HTX chỉ cần gửi online và sẽ nhận trả lời bằng văn bản qua kênh online.
Điều kiện thứ 2 là chất lượng hàng hoá ổn định; thứ 3 là truy xuất nguồn gốc và nguồn nguyên liệu; thứ 4 là năng lực sản xuất.
Hiện nay, Saigon Co.op có gần 1000 điểm bán phủ 34 tỉnh thành, các HTX gần siêu thị hoặc phòng tiếp nhận hồ sơ của Saigon Co.op tại địa phương nào sẽ mang hồ sơ đến nơi tiếp nhận gần nhất. Theo bà Dung, quan trọng là năng lực cung ứng của HTX ra sao? Ví dụ HTX cung ứng toàn hệ thống hay cung ứng ở một vùng miền nào đó
Thứ 5 là khả năng thuơng mại. Để HTX kinh doanh bền vững các siêu thị nói chung và Saigon Co.op nói riêng cần có giá cạnh tranh, nhãn mác bao bì hấp dẫn khách hàng.
(Tiếp tục cập nhật)
1 giờ trước
Có dự án chuyển đổi số, HTX tiếp cận vốn vay như thế nào?
Ông Nguyễn Hùng Tiến – Chủ tịch Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX Việt Nam cho biết, Quỹ luôn sẵng sàng hỗ trợ HTX tiếp cận nguồn vốn. Quỹ cũng có quy trình, yêu cầu rõ ràng, đầu mối hướng dẫn HTX rõ ràng. HTX có thể gọi điện để cùng HTX tháo gỡ khó khăn.
Điều kiện chuẩn bị: hồ sơ pháp lý đầy đủ, có dự án chuyển đổi số phù hợp với phương án sản xuất kinh doanh. Nhiều HTX gửi hồ sơ nhưng quy mô dự án lớn hơn rất nhiều thực tế của HTX nên phải làm lại.

Sau khi triển khai dự án chuyển đổi số, vấn đề vận hành dự án phải được quan tâm để theo đúng kế hoạch.
Khi tiếp nhận hồ sơ về chuyển đổi số, Quỹ lưu ý HTX phải cân đối tài chính để trả về Quỹ nhằm đảm bảo tính khả thi, hiệu quả. Điều này cũng chứng minh tính hiệu quả của công nghệ khi áp dụng vào thực tiễn.
Những điểm yếu cốt lõi của HTX khi làm hồ sơ về các dự án vay vốn chuyển đổi số:
Việc hạch toán kế toán sổ sách của nhiều HTX còn yếu, dù thực tế HTX sản xuất kinh doanh tốt. Điều này khiến HTX không thể triển khai các bước trong quá trình muốn vay vốn. Trong khi điều kiện pháp luật hiện nay buộc HTX phải đáp ứng các yêu cầu về thuế.
Bên cạnh đó, khả năng đánh giá hiệu quả dự án của HTX chưa cụ thể, HTX chưa dung lượng hóa được tính hiệu quả nên chưa tính rõ được lợi nhuận mang về sau khi chuyển đổi số.
Do đó, khi liên hệ với Quỹ vay vốn đầu tư cho chuyển đổi số thì HTX cần xem mình có vướng mắc về quản trị dòng tiền, truy xuất, bán hàng hay không? Từ đó, HTX mới xác định được chi phí đầu tư có quá thấp hay quá cao so với yêu cầu thực tiễn.
HTX cũng phải lưu ý, nhiều khi HTX nghĩ về tương lai trong 5 năm tới rất lớn khiến dự án đề ra quá lớn. Điều này có thể khiến HTX luôn rơi vào tình trạng thiếu vốn, khó vận hành và quản lý dù có mong muốn chuyển đổi số. Do đó, từ ý tưởng, kế hoạch chuyển đổi số cần rõ ràng, phù hợp, tính toán cụ thể.
(Tiếp tục cập nhật)
1 giờ trước
Hỏi – đáp trực tiếp thẳng thắn và đầy đủ thông tin
Ông Bùi Khánh Dũng – Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần MUSA PACTA:
Hiện nay, phải liên kết, tổ chức các HTX ở địa phương mới có vùng nguyên liệu. Thực tế trong quá trình chuyển đổi số đã thành “áp lực” chứ không còn dừng ở “động lực” của HTX, bởi liên quan đến nhiều quy định, nhất là về thuế.
Hiện nay, tỷ lệ công nhân trong xưởng có thể làm công nhật. Vào vụ thu hoạch, mỗi xưởng có hàng chục, thậm chí hàng trăm lao động. Trong khi những ngày thường, không phải vào vụ thu hoạch thì tại xưởng chỉ có ít lao động. Vậy thì quản lý làm sao cho hiệu quả. Điều này buộc các HTX phải thực hiện chuyển đổi số để quản lý tốt hơn, minh bạch hơn.
Ông Nguyễn Thanh Mộng, Giám đốc SORIMACHI Nhật Bản tại Việt Nam:
HTX cần đặt câu hỏi, vấn đề chính của mình ở đâu? Khảo sát của SORIMACHI, có đến 73% HTX muốn kết nối dữ liệu kế toán với phần mềm bán hàng. Như vậy, nếu HTX cần giải quyết vấn đề kế toán thì dùng phần mềm kế toán, còn nếu muốn truy xuất thì cũng có phần mềm riêng, về đươn hàng thì cũng có phần mềm quản lý bán hàng.
HTX có phần mềm rồi, không có kế toán thì có thể thuê kế toán nhưng điều quan trọng là vấn phải có dữ liệu. Nên cần chú trọng đến vấn đề này ngay trong sản xuất, quản trị…
HTX cũng không nên đầu tư toàn bộ các phần mềm, công nghệ cùng một lúc mà phải xem cái gì cần trước thì đầu tư trước. Nếu HTX có 200-300 triệu thì đầu tư cho phần mềm chỉ khoảng 5-10%, còn lại chi phí để đầu tư các vấn đề khác như con người, kỹ năng… để mang lại hiệu quả toàn diện, lâu dài.
Bà Nguyễn Thị Kim Dung, Giám đốc Siêu thị Co.op Mart Hà Nội:
Các HTX đặt mục tiêu đưa sản phẩm vào hệ thống siêu thị Co.op Mart cần những điều kiện gì?
Điều đầu tiên, HTX cần thay đổi là tư duy sản xuất. Hiện tại, các HTX có gì sản xuất cái đó, bán cái đó, nhưng thực tế chúng ta phải thay đổi thị trường cần gì, khách hàng cần gì để đáp ứng mới đưa được vào hệ thống phân phối siêu thị.
Để làm được điều này, HTX cần đáp ứng 5 điều kiện, đó là hồ sơ pháp lý; chất lượng sản phẩm; truy xuất nguồn gốc; năng lực sản xuất và sự cạnh tranh thương mại về giá cả, nhãn mác hàng hoá.
“Đối với HTX, theo tôi, không đưa các mục tiêu đơn thuần đưa hàng vào siêu thị, mà là khi đưa hàng vào siêu thị và bán hàng trong siêu thị, khách hàng biết tới sản phẩm và mua sản phẩm mới quán trọng”, bà Dung nhấn mạnh. Đồng thời khẳng định “Chúng tôi luôn ủng hộ HTX đưa sản phẩm vào siêu thị, thậm chí, Saigon Co.op có một đội ngũ chuyên tư vấn cho HTX làm hồ sơ đưa sản phẩm vào HTX”.
(Tiếp tục cập nhật)
1 giờ trước
Vì sao một HTX bán được hàng trên sàn TMĐT vẫn lỗ, nút thắt là ở kỹ năng bán hàng hay vì lý do gì?

Ông Nguyễn Quốc Huy, Chủ tịch HĐQT HTX Nấm Tam Đảo cho biết, những năm gần đây, chuyển đổi số rất quan trọng với DN và HTX, qua quá trình cập nhật chuyển đổi số vào quản trị, sản xuất, kinh doanh, HTX có một số vấn đề khó khăn cản trở việc phát triển của HTX và làm giảm lợi nhuận của HTX, đó là phí sàn thương mại điện tử (TMĐT).
Ông Huy cho biết, hiện nay, đa số sản phẩm đều mong muốn được đưa lên sàn TMĐT. Tại HTX Nấm Tam Đảo có 16 sản phẩm, trong đó có 11 sản phẩm OCOP, nhưng để sản phẩm lên sàn bán được hàng còn gặp khá nhiều khó khăn. “Hiện nay, phí sàn chiếm 30-35%, chưa kể các khoản phí logistic, phí truyền thông… cũng lên tới 60%. Do đó, giá trị nông sản không đánh giá đúng giá trị thực tế, giá trị người nông dân bỏ ra”, ông Huy cho hay. “Trong khi đó, nếu chúng tôi đưa giá cao khó tiếp cận khách hàng, còn giá thấp thì HTX không có lãi” ông Huy nhấn mạnh.
1 giờ trước
Nhiều HTX đón chờ phiên tọa đàm tại Diễn đàn
Qua các tham luận, ý kiến phát biểu tại phiên 1 cho thấy, chuyển đổi số của HTX cần nhìn nhận từ nhiều góc độ: chính sách, dữ liệu, công nghệ, thị trường và thực tiễn triển khai tại địa phương.
Tuy nhiên, điều quan trọng là làm thế nào để những “mảnh ghép” đó có thể kết nối thành một lộ trình chuyển đổi số phù hợp với chính HTX của mình? Nếu ngày mai bắt đầu chuyển đổi số, HTX nên làm việc gì trước? Nên ưu tiên bài toán nào? Đầu tư bao nhiêu là phù hợp? Nguồn vốn có thể đến từ đâu? Và quan trọng nhất, làm thế nào để khoản đầu tư cho chuyển đổi số thực sự tạo ra hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh và mở rộng thị trường?
Đó chính là những vấn đề sẽ được trao đổi, phân tích và tìm kiếm lời giải trong phiên tọa đàm “Một HTX nên bắt đầu chuyển đổi số từ đâu?” với sự tham gia của các khách mời: Ông Nguyễn Hùng Tiến – Chủ tịch Quỹ Hỗ trợ phát triển Hợp tác xã Việt Nam; ông Bùi Khánh Dũng – Chủ tịch HĐQT Cty cổ phần MUSA PACTA; bà Nguyễn Thị Kim Dung – Giám đốc siêu thị Coopmart Hà Nội; ông Nguyễn Thanh Mộng – Giám đốc SORIMACHI Nhật Bản tại Việt Nam; ông Nguyễn Quốc Huy – Chủ tịch HĐQT HTX Nấm Tam Đảo; ông Nguyễn Hoàng Linh – Giám đốc HTX nghiên cứu ứng dụng và phát triển Nông nghiệp thông minh.
(Tiếp tục cập nhật)
1 giờ trước
Từ dữ liệu, quản trị đến thị trường
Theo ông Đỗ Xuân Trường – Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Ninh Bình, chuyển đổi số phải là quá trình thay đổi phương thức quản trị, tổ chức sản xuất, xây dựng thương hiệu, kết nối chuỗi giá trị và tiếp cận thị trường của HTX.

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã mở ra một yêu cầu và động lực phát triển mới, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững.
Đối với khu vực kinh tế tập thể, HTX, chuyển đổi số không phải là việc trang bị thêm máy tính, mua một phần mềm hay đưa sản phẩm lên mạng xã hội. Chuyển đổi số phải là quá trình thay đổi phương thức quản trị, tổ chức sản xuất, xây dựng thương hiệu, kết nối chuỗi giá trị và tiếp cận thị trường của HTX. Nói cách khác: Từ dữ liệu phải đi đến quản trị; từ quản trị phải đi đến hiệu quả; từ hiệu quả phải đi đến thị trường; và cuối cùng phải tạo ra lợi ích thiết thực hơn cho thành viên HTX. Đây cũng chính là cách tiếp cận của Liên minh HTX tỉnh Ninh Bình.
Ninh Bình hiện có 1.432 HTX, trong đó có 953 HTX dịch vụ nông nghiệp, 93 Quỹ tín dụng nhân dân, còn lại là các HTX hoạt động trong nhiều lĩnh vực phi nông nghiệp.
Sau quá trình hợp nhất, tỉnh Ninh Bình có không gian phát triển rộng hơn, quy mô kinh tế lớn hơn, thị trường phong phú hơn, đồng thời cũng hình thành những điều kiện thuận lợi hơn để các HTX liên kết sản xuất, liên kết vùng nguyên liệu, liên kết với doanh nghiệp và mở rộng thị trường.
Đặc biệt, Ninh Bình có những lợi thế rất lớn về nông nghiệp và sản phẩm nông nghiệp đặc trưng; Sản phẩm OCOP; Làng nghề và sản phẩm thủ công; Thủy sản; Dịch vụ; Du lịch; Ẩm thực và các sản phẩm đặc trưng vùng miền. Đây là những điều kiện rất thuận lợi để kinh tế tập thể, HTX tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Nhưng đồng thời, thị trường ngày càng đặt ra những yêu cầu cao hơn. Người tiêu dùng không chỉ hỏi:“Sản phẩm này giá bao nhiêu?” mà còn hỏi: “Sản phẩm được sản xuất ở đâu? Quy trình như thế nào? Có an toàn không? Có truy xuất được nguồn gốc không? Chất lượng có ổn định không? Có giao hàng được không?” Doanh nghiệp và hệ thống phân phối cũng không chỉ cần một vài sản phẩm để bán, mà cần: nguồn cung ổn định – chất lượng ổn định – sản lượng ổn định – dữ liệu minh bạch – khả năng truy xuất và khả năng đáp ứng đơn hàng. Vì vậy, nếu HTX không chuyển đổi phương thức quản trị và sản xuất thì rất khó tham gia sâu vào các chuỗi giá trị hiện đại.
Thực tiễn cho thấy, chuyển đổi số trong HTX không thể thực hiện bằng cách áp đặt một mô hình công nghệ giống nhau cho tất cả HTX. Một HTX nông nghiệp khác HTX thủy sản. HTX sản xuất khác HTX thương mại, dịch vụ. HTX quy mô lớn khác HTX quy mô nhỏ. Vì vậy, chuyển đổi số phải đúng nhu cầu, đúng quy mô, đúng khả năng và quan trọng nhất là phải tạo ra hiệu quả kinh tế.
Liên minh HTX tỉnh Ninh Bình xác định chuyển đổi số là một trong ba khâu đột phá trong hoạt động nhiệm kỳ mới. Ba khâu đột phá của chúng tôi gồm:
Một là, nâng cao hiệu quả và đổi mới phương thức hoạt động của Liên minh HTX tỉnh.
Hai là, thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trong khu vực HTX.
Ba là, xây dựng và phát triển các chuỗi liên kết giá trị.
Ba khâu này không tách rời nhau. Bởi nếu Liên minh hoạt động hiệu quả hơn thì mới hỗ trợ HTX tốt hơn. HTX chuyển đổi số tốt hơn thì quản trị tốt hơn. Quản trị tốt hơn thì mới đủ năng lực tham gia chuỗi và khi tham gia được chuỗi thì mới mở rộng được thị trường, nâng cao giá trị sản phẩm và tăng lợi ích cho thành viên.
Hiện nay, một số HTX đã sử dụng phần mềm kế toán, hóa đơn điện tử, thanh toán điện tử, mạng xã hội, thương mại điện tử, mã QR và truy xuất nguồn gốc. Đó là những bước đi cần thiết. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì mới là số hóa một số công việc, chưa phải là chuyển đổi số toàn diện. Do đó, chuyển đổi số thực sự phải trả lời được những câu hỏi: HTX có biết chính xác mình đang có bao nhiêu thành viên không? Biết chi phí sản xuất của từng sản phẩm không? Biết sản phẩm nào có hiệu quả cao nhất không? Biết khách hàng của mình ở đâu không? Biết thị trường đang cần sản phẩm gì không? Biết đơn hàng đang ở đâu và giao hàng thế nào không? Biết thành viên được hưởng lợi bao nhiêu từ hoạt động của HTX không?
Nếu dữ liệu trả lời được những câu hỏi đó thì dữ liệu mới thực sự trở thành công cụ quản trị. Vì vậy, Liên minh HTX tỉnh Ninh Bình xác định: Không lấy số lượng phần mềm làm thước đo chuyển đổi số; lấy hiệu quả quản trị, hiệu quả sản xuất kinh doanh và lợi ích của thành viên làm thước đo chuyển đổi số.
Một trong những hướng Liên minh HTX Ninh Bình đặc biệt quan tâm là gắn chuyển đổi số với xây dựng chuỗi giá trị. Thời gian qua, tỉnh Ninh Bình đã hình thành và phát triển 108 chuỗi liên kết giá trị. Tuy nhiên, Liên minh HTX Ninh Bình xác định con số không phải là mục tiêu cuối cùng. Điều quan trọng hơn là phải làm cho các chuỗi này hoạt động thực chất, có dữ liệu, có tiêu chuẩn, có thương hiệu và có thị trường ổn định.
Trong chuỗi giá trị, dữ liệu có vai trò rất quan trọng. Doanh nghiệp cần biết vùng nguyên liệu ở đâu. HTX cần biết doanh nghiệp cần sản lượng bao nhiêu. Cơ quan quản lý cần biết chất lượng và nguồn gốc sản phẩm. Người tiêu dùng cần biết sản phẩm được sản xuất như thế nào. Nếu tất cả các chủ thể cùng tiếp cận được dữ liệu cần thiết thì chuỗi liên kết sẽ minh bạch hơn, giảm chi phí giao dịch và tăng niềm tin. Đây chính là nơi chuyển đổi số có thể tạo ra giá trị rất lớn cho HTX.
Đối với Ninh Bình, việc kết nối: HTX – OCOP – du lịch – thương mại – nền tảng số là một vấn đề rất được quan tâm. Một du khách đến Ninh Bình không chỉ tham quan cảnh quan, di tích mà còn có nhu cầu sử dụng, trải nghiệm và mua sản phẩm đặc trưng của địa phương. Nếu mỗi sản phẩm của HTX có: câu chuyện sản phẩm; thông tin vùng nguyên liệu; quy trình sản xuất; mã truy xuất; hình ảnh; video; địa chỉ bán hàng; phương thức đặt hàng; thì chiếc điện thoại của du khách có thể trở thành một “cửa hàng số” đưa sản phẩm HTX từ điểm du lịch đến thị trường trong cả nước. Đây là lý do Liên minh HTX tỉnh Ninh Bình đặt mục tiêu từng bước đưa các sản phẩm OCOP và sản phẩm chủ lực vào các chuỗi giá trị gắn với du lịch, thương mại và thị trường. Mục tiêu cuối cùng phải là sản phẩm đi được vào thị trường, đến được với người tiêu dùng và tạo ra doanh thu thường xuyên cho HTX.
Qua thực tiễn hoạt động, Liên minh HTX Ninh Bình nhận thấy, khu vực HTX còn 5 điểm nghẽn chủ yếu:
Một là, nhận thức và năng lực số. Một bộ phận cán bộ HTX còn tâm lý e ngại công nghệ, thiếu nhân lực chuyên môn.
Hai là, dữ liệu. Dữ liệu của HTX còn phân tán, chưa chuẩn hóa, chưa liên thông và chưa trở thành công cụ quản trị.
Ba là, nguồn lực tài chính. Đầu tư công nghệ, phần mềm, thiết bị, đào tạo và duy trì hệ thống đều cần kinh phí, trong khi đa số HTX có quy mô nhỏ.
Bốn là, thiếu giải pháp công nghệ phù hợp. Nhiều sản phẩm công nghệ trên thị trường được thiết kế cho doanh nghiệp lớn, chưa thật sự phù hợp với HTX.
Năm là, thị trường. Nếu chuyển đổi số không gắn với tiêu thụ sản phẩm thì HTX rất khó nhìn thấy lợi ích để tiếp tục đầu tư.
Vì vậy, muốn HTX chuyển đổi số nhanh hơn thì phải đồng thời giải quyết cả 5 điểm nghẽn này bằng cách:
1. Xây dựng nền tảng số dùng chung cho HTX
Đề nghị Liên minh HTX Việt Nam phối hợp với các bộ, ngành nghiên cứu xây dựng nền tảng số dùng chung cho khu vực HTX, theo hướng đơn giản, dễ sử dụng, chi phí thấp.
Có thể tích hợp: Thành viên – quản trị – kế toán – sản xuất – kho – truy xuất – đơn hàng – thanh toán – thương mại điện tử – xúc tiến thương mại. Đây sẽ là hạ tầng số quan trọng để hạn chế tình trạng mỗi HTX sử dụng một phần mềm, dữ liệu không kết nối được với nhau.
2. Có chính sách hỗ trợ “năng lực số” cho HTX
Đề nghị các chương trình hỗ trợ không chỉ hỗ trợ thiết bị mà cần hỗ trợ: đào tạo – tư vấn – số hóa dữ liệu – xây dựng quy trình – vận hành hệ thống. Đặc biệt, cần có đội ngũ “chuyên gia đồng hành cùng HTX”, hỗ trợ trực tiếp trong quá trình chuyển đổi.
3. Hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia về HTX theo hướng mở và liên thông
Mỗi HTX cần có một hồ sơ số về tổ chức, thành viên, sản phẩm, vùng nguyên liệu, sản lượng, chất lượng, thị trường và năng lực cung ứng. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, HTX sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để tiếp cận: Ngân hàng – doanh nghiệp – nhà phân phối – cơ quan quản lý – đối tác trong và ngoài nước.
4. Có cơ chế tài chính và tín dụng cho chuyển đổi số
Đề nghị nghiên cứu các chương trình tín dụng phù hợp để HTX có thể đầu tư: công nghệ; thiết bị; tự động hóa; phần mềm; truy xuất nguồn gốc; thương mại điện tử; đào tạo nhân lực.
Với phương châm: “Đoàn kết – Hợp tác – Đổi mới – Hội nhập – Phát triển”, Liên minh HTX tỉnh Ninh Bình quyết tâm đưa chuyển đổi số trở thành động lực mới, phương thức mới và giá trị mới cho khu vực kinh tế tập thể, HTX tỉnh Ninh Bình.
(Tiếp tục cập nhật)
1 giờ trước
Bốn trụ cột liên kết nâng tầm giá trị nông sản và sản phẩm Việt
Bà Lương Kiều Lan Chi, Giám đốc miền Bắc Liên hiệp HTX Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh (Saigon Co.op) khẳng định hiện nay chiến lược xây dựng Saigon Co.op trở thành cầu nối phát triển chuỗi giá trị cho các HTX. Theo đó, doanh nghiệp triển khai mạnh mẽ 4 trụ cột liên kết bao gồm nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và xuất nhập khẩu.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, Saigon Co.op chủ động đồng hành cùng các HTX và bà con nông dân để phát triển vùng nguyên liệu ổn định. Đơn vị trực tiếp đưa các mặt hàng nông sản địa phương vào hệ thống bán lẻ hiện đại, đồng thời tư vấn và hỗ trợ chuẩn hóa chất lượng theo các tiêu chí VietGAP, GlobalGAP, HACCP và Organic.
Đối với ngành công nghiệp, nhà bán lẻ thúc đẩy liên kết giữa sản xuất, chế biến và phân phối hàng tiêu dùng. Mục tiêu chính là nâng cao chất lượng sản phẩm Việt tiệm cận với các tiêu chuẩn quốc tế uy tín như FDA, ISO và HACCP.
Về mảng dịch vụ, hệ thống hạ tầng logistics của Saigon Co.op được tích hợp linh hoạt với các giải pháp vận chuyển và tài chính. Điều này bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu luôn thông suốt, tiếp cận đến mọi vùng miền đất nước, bao gồm cả những khu vực vùng sâu, vùng xa và các hải đảo tiền tiêu.
Ở mảng xuất nhập khẩu, doanh nghiệp đã mở rộng kênh tiêu thụ ra hơn 20 thị trường quốc tế nhờ mạng lưới hợp tác sâu rộng với hơn 300 đối tác toàn cầu. Đây là bệ phóng quan trọng giúp nông sản và hàng hóa chất lượng cao của Việt Nam tự tin vươn ra thế giới.
Để hàng hoá của nhà cung cấp và HTX vào được hệ thống phân phối của Saigon Co.op, các nhà cung cấp phải đáp ứng được yêu cầu về quy trình tiếp nhận và xét duyệt hàng hóa mới với 6 bước phối hợp chặt chẽ.
Bước thứ nhất do nhà cung cấp thực hiện, bao gồm việc chuẩn bị hồ sơ đầy đủ, rõ ràng và nộp kèm mẫu phiếu chào hàng theo đúng quy định.
Bước thứ hai thuộc về trách nhiệm của Saigon Co.op, nơi bộ phận chuyên môn tiếp nhận và tiến hành kiểm tra sơ bộ hồ sơ cũng như mẫu chào hàng.
Bước thứ ba là quá trình xét duyệt hàng hóa, đánh giá tính phù hợp của sản phẩm đối với nhu cầu thị trường và định hướng kinh doanh.
Bước thứ tư tập trung vào việc kiểm tra chi tiết hồ sơ pháp lý, bảo đảm sản phẩm đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn an toàn và quy định của pháp luật.
Bước thứ năm, Saigon Co.op sẽ chính thức gửi thông báo kết quả xét duyệt đến cho nhà cung cấp.
Bước thứ sáu là sự phối hợp giữa nhà cung cấp và Saigon Co.op để thực hiện cấp mã sản phẩm, hoàn tất các thủ tục chuẩn bị cho việc kinh doanh chính thức.
Cùng với quy trình 6 bước, bà Chi cũng lưu ý 3 yêu cầu quan trọng mà nhà cung cấp cần tuân thủ khi chuẩn bị hồ sơ. Đó là phải sử dụng đúng biểu mẫu theo quy định, kiểm tra kỹ để thông tin pháp lý đầy đủ và rõ ràng, đồng thời gửi đính kèm mẫu sản phẩm hoàn chỉnh cùng với hồ sơ chào hàng.
Theo Giám đốc miền Bắc Saigon Co.op, để hỗ trợ tối đa cho các đối tác ở xa, Saigon Co.op triển khai linh hoạt hai hình thức tiếp nhận hồ sơ. Nhà cung cấp có thể lựa chọn chào hàng trực tiếp bằng cách gửi hoặc nộp hồ sơ tại văn phòng, hoặc thực hiện quy trình chào hàng trực tuyến thông qua hệ thống online. Doanh nghiệp đã ban hành các biểu mẫu và danh mục hồ sơ pháp lý chuẩn hóa cho 5 nhóm ngành hàng gồm Thực phẩm công nghệ, Thực phẩm tươi sống, Đồ dùng, Hóa mỹ phẩm và May mặc.
(Tiếp tục cập nhật)
2 giờ trước
Từ bài toán của HTX đến giải pháp công nghệ
Theo TS. Chu Tiến Đạt, Tổng công ty VTC (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), nhiều doanh nghiệp gắn mã truy xuất giúp doanh thu tăng khoảng 20-25%, nên việc truy xuất nguồn gốc là yêu cầu cần thực hiện trong mỗi HTX, càng sớm càng tốt.

Ông Đạt cho biết, đến hết năm 2025, cả nước có 35.041 HTX với khoảng 7,1 triệu thành viên. Bình quân một HTX có khoảng 10 lao động, doanh thu 7,4 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 250,8 triệu đồng (Cục Thống kê, 2025), tức cứ 100 đồng doanh thu chỉ lãi khoảng 3,4 đồng. Chỉ khoảng 15% cán bộ HTX nông nghiệp sử dụng thành thạo máy tính và phần mềm. Trong khi đó, chi phí chuyển đổi số của một HTX có thể lên tới 200 đến 300 triệu đồng mỗi năm, ngang bằng hoặc vượt lợi nhuận cả năm.
Đây là lý do nhiều HTX chần chừ, hoặc làm theo phong trào rồi dừng lại khi hết hỗ trợ. Trong khi đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị khuyến khích thuê, mua sản phẩm, dịch vụ số và dùng chung các nền tảng số; Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương yêu cầu hỗ trợ KTTT đẩy nhanh chuyển đổi số. Luật HTX năm 2023 và Nghị định số 113/2024/NĐ-CP cho phép hỗ trợ HTX thuê, mua giải pháp chuyển đổi số, trong đó Nhà nước có thể phát triển phần mềm để HTX dùng chung, không thu tiền…
Như vậy, chính sách đã cho phép cả thuê và mua; tuy nhiên mức hỗ trợ là mức tối đa và phụ thuộc kinh phí được bố trí, nên phương án của HTX phải tự cân đối được khi chưa có hỗ trợ.
Khác với doanh nghiệp, thu nhập của thành viên HTX được chia chủ yếu theo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX (Luật HTX năm 2023, Điều 4, Điều 8). Nghị định số 113/2024/NĐ-CP cũng lấy việc tăng giá trị giao dịch giữa HTX với thành viên làm một tiêu chí để được hỗ trợ.
Điều này đòi hỏi HTX phải ghi chép được, có chứng từ, giá trị mua, bán, dịch vụ với từng thành viên. Do đó, sổ giao dịch thành viên dạng số, gắn với kế toán theo Thông tư số 71/2024/TT-BTC và thanh toán qua tài khoản, là hạng mục nên đầu tư trước. Khi chọn phần mềm, cần kiểm tra có chức năng quản lý thành viên, vốn góp, giao dịch với thành viên hay không, vì phần mềm viết cho doanh nghiệp thường không có.
Tuy nhiên, hiện nay, HTX gặp vấn đề quyết toán với thành viên hầu hết vẫn ở dạng thủ công. Sổ tay, phiếu cân rời, trả tiền mặt, dồn đối chiếu đến cuối vụ; chậm trả tiền, dễ tranh chấp. Sổ sách tài chính chậm, khóa sổ muộn, thất lạc chứng từ; khó vay vốn, khó chứng minh tiêu chí hỗ trợ… Sổ sách thủ công khiến HTX khó đáp ứng các yêu cầu về hợp đồng mua bán, các yêu cầu của nhà thu mua.
Hiện, những doanh nghiệp gắn mã truy xuất giúp doanh thu của các đơn vị tăng khoảng 20-25%. Do đó, việc truy xuất nguồn gốc là yêu cầu cần thực hiện trong mỗi HTX, càng sớm càng tốt.
Vấn đề cấp bách là từ ngày 01/01/2027, hàng hóa rủi ro cao thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương phải được truy xuất nguồn gốc đầy đủ trước khi lưu thông. Trước khi gặp nhà cung cấp, ban quản trị HTX cần tự trả lời 3 câu hỏi: (a) vấn đề nào đang làm HTX mất tiền hoặc mất khách, mỗi năm khoảng bao nhiêu; (b) ai sẽ nhập và sử dụng dữ liệu hằng ngày, họ có đủ thời gian, thiết bị, kỹ năng không; (c) sau 6 tháng và 12 tháng, chỉ số nào phải thay đổi, ai chịu trách nhiệm. Chưa trả lời được câu (a) bằng một con số thì chưa nên mua; chưa trả lời được câu (b) thì nên chi trước cho chuẩn hóa quy trình và đào tạo; chưa trả lời được câu (c) thì chưa nên ký hợp đồng.
Trước thực tế này, giải pháp nên được áp dụng là HTX thuê trước, mua sau, không tự xây dựng hệ thống riêng; HTX ưu tiên nền tảng dùng chung và nền tảng do Nhà nước cung cấp, như hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia; HTX nhập dữ liệu một lần, dùng cho nhiều khâu, hợp đồng phải cho phép lấy lại toàn bộ dữ liệu khi thôi dùng dịch vụ; Dùng được trên điện thoại, dễ thao tác với thành viên lớn tuổi; HTX có chỉ số đo trước khi ký hợp đồng.
TS. Chu Tiến Đạt cho biết giải pháp gồm 3 lớp, làm lần lượt. Lớp 1, tài chính và thành viên (bắt buộc, năm thứ nhất): phần mềm kế toán HTX có quản lý thành viên, vốn góp, giao dịch với thành viên; hóa đơn điện tử; chữ ký số; thu, chi qua tài khoản và mã QR.
Lớp 2, bán hàng và đáp ứng nhà phân phối (năm thứ nhất): quản lý bán hàng, kho theo lô; mã số mã vạch; hồ sơ sản phẩm; nhật ký sản xuất và truy xuất nguồn gốc trên hệ thống quốc gia đối với nhóm hàng bắt buộc.
Lớp 3, tăng trưởng (khi lớp 1, lớp 2 đã ổn định): dữ liệu khách hàng, bán hàng đa kênh, nội dung số, trí tuệ nhân tạo. Cần phân biệt phần việc công nghệ làm được và không làm được. Với yêu cầu của nhà phân phối, công nghệ giải quyết tốt phần thông tin (mã vạch, hồ sơ, nhãn, hóa đơn, truy xuất) với chi phí biết trước; còn chất lượng ổn định, sản lượng đều, chứng nhận, bảo quản, vận chuyển thì công nghệ chỉ hỗ trợ theo dõi. Tem truy xuất có giá khoảng 200 đến 500 đồng/tem và mã QR chỉ phản ánh thông tin do người sản xuất nhập vào. Với 1.000 sản phẩm/ngày, tiền tem mỗi năm khoảng 73 đến 183 triệu đồng, bằng 29% đến 73% lợi nhuận bình quân. Vì vậy, nên ưu tiên ghi nhật ký trung thực trên hệ thống truy xuất quốc gia, chỉ dán tem đến từng sản phẩm với nhóm hàng bắt buộc hoặc khi người mua chấp nhận trả thêm.
Với ngân sách năm đầu 50 đến 100 triệu đồng, chưa nên đầu tư: phần mềm, ứng dụng, website riêng; thiết bị cảm biến kết nối Internet; công nghệ chuỗi khối; hệ thống quản trị tổng thể như của doanh nghiệp lớn.
Việc bán hàng trên sàn thương mại điện tử của HTX cũng cần cân nhắc: tổng phí người bán năm 2026 khoảng 8,4% đến 20% giá trị đơn hàng, cao hơn nhiều mức lãi 3,4% trên doanh thu; có mặt trên sàn không đồng nghĩa với chuyển đổi số.
Cùng với đó, trí tuệ nhân tạo nên dùng trước cho những việc đơn giản như viết mô tả sản phẩm, kịch bản video ngắn, trả lời khách hàng, chi phí từ miễn phí đến khoảng 0,5 triệu đồng/tháng; dự báo nhu cầu chỉ làm được khi đã có 12 đến 24 tháng dữ liệu. Nội dung do máy tạo ra cần có người kiểm tra trước khi đăng.
Về vấn đề chi phí của một giải pháp số, đây không chỉ là tiền phần mềm, mà còn gồm thiết bị, chuẩn bị dữ liệu, đào tạo, thời gian của người lao động trong giai đoạn vừa làm sổ cũ vừa làm trên hệ thống mới, phí giao dịch và dự phòng. Chuẩn bị dữ liệu và đào tạo thường bị bỏ quên khi lập dự toán, trong khi đây là khâu quyết định hệ thống có được dùng thật hay không
HTX cần xác đinh, phần con người và dữ liệu chiếm không dưới 40% ngân sách, vì thiếu phần này thì hai phần còn lại không phát huy tác dụng. Tổng chi phí năm đầu 41 đến 97 triệu đồng, thấp hơn mức 200 đến 300 triệu đồng, vì chỉ tính các hạng mục ưu tiên theo hình thức thuê bao. Nếu chỉ có 50 triệu đồng, HTX giữ hạng mục 1, dành không dưới 20 triệu đồng cho hạng mục 3, chọn gói phần mềm bán hàng thấp nhất, tận dụng thiết bị sẵn có và học kỹ năng số cơ bản trên các nền tảng đào tạo mở không thu phí . Khi lớp 1, lớp 2 đã ổn định, khoản đầu tư mở rộng 100 đến 500 triệu đồng trong 2 đến 3 năm tiếp theo dành cho dữ liệu khách hàng, bán hàng đa kênh, nội dung số và trí tuệ nhân tạo.
Về nguồn vốn, HTX có thể kết hợp chính sách hỗ trợ của Nhà nước, cơ chế riêng của địa phương và vốn vay, nhưng không được nhận hỗ trợ trùng lặp từ ngân sách cho cùng một nội dung (Nghị định số 224/2026/NĐ-CP, Điều 75). Dự thảo sửa đổi Nghị định số 113/2024/NĐ-CP đề xuất hỗ trợ không quá 100 triệu đồng/năm cho chuyển đổi số; khi chưa ban hành, mức này chỉ nên được coi là khoản giảm chi phí có thể có.
Thực tế từ các nước cho thấy, hợp tác quốc tế không chỉ là nguồn tài trợ mà là con đường ngắn nhất để HTX Việt Nam tiếp nhận chuẩn dữ liệu, mô hình vận hành đã thành công và kết nối sản phẩm với thị trường nước ngoài.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Liên minh HTX Việt Nam xác định chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế là trọng tâm nhiệm kỳ 2026 – 2031 (ICA-AP, 2026). Liên minh HTX Việt Nam là thành viên của Liên minh HTX quốc tế khu vực châu Á – Thái Bình Dương và đã hợp tác với doanh nghiệp Nhật Bản trong xây dựng cơ sở dữ liệu số cho HTX.
Một ví dụ điển hình tại Đức là HTX DATEV, thành lập năm 1966, cung cấp phần mềm kế toán cho hơn hai triệu doanh nghiệp; vì là HTX nên không nhà đầu tư nào mua lại được nền tảng. Hay tại Ấn Độ, phần mềm dùng chung cho 79.630 HTX tín dụng nông nghiệp, tính bình quân khoảng 4.200 USD/HTX, gồm cả thiết bị, số hóa dữ liệu, đào tạo. Một đầu mối xây dựng, vận hành; chuẩn dữ liệu thống nhất; chi phí chia cho hàng nghìn đơn vị; thành viên hoặc Nhà nước giữ quyền kiểm soát nền tảng Cơ sở dữ liệu HTX. Cũng tại Ấn Độ, cơ sở dữ liệu HTX quốc gia vận hành từ năm 2024, đến năm 2026 có khoảng 860.000 HTX thuộc 30 lĩnh vực.
Từ kinh nghiệm quốc tế, có thể thấy, rất cần nền tảng dùng chung cho khu vực KTTT, HTX. Bởi hiện nay có 3 điểm nghẽn mà từng HTX không tự giải quyết được.
Thứ nhất, phần lớn chi phí của một hệ thống số là chi phí cố định (phần mềm, chuẩn dữ liệu, tài liệu học, đội ngũ hỗ trợ); nếu mỗi HTX tự làm, khoản chi này bị lặp lại hàng chục nghìn lần.
Thứ hai, HTX thiếu người hỗ trợ kỹ thuật, kể cả sau khi đã đầu tư, nên điều cần là một đội ngũ hỗ trợ dùng chung chứ không phải thêm phần mềm.
Thứ ba, một số chính sách miễn phí hiện hành chưa bao gồm HTX: Nghị quyết số 198/2025/QH15 cung cấp miễn phí nền tảng số, phần mềm kế toán dùng chung cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh; Nghị định số 224/2026/NĐ-CP quy định hỗ trợ bổ sung cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo câu chữ, HTX không thuộc các nhóm này. Khoảng trống này cần được xử lý ngay từ khâu xây dựng văn bản; nếu không, mỗi chính sách mới sẽ tiếp tục để HTX đứng ngoài.
Nhưng nền tảng dùng chung chỉ vận hành được khi có cơ sở dữ liệu thống nhất về HTX, thành viên và sản phẩm. Luật HTX năm 2023 quy định Hệ thống thông tin quốc gia về HTX; Luật Dữ liệu năm 2024 và Luật Chuyển đổi số năm 2025 yêu cầu dữ liệu được kết nối, chia sẻ, dùng lại.
Trong chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, Liên minh HTX Việt Nam đặt chỉ tiêu xây dựng hệ thống dữ liệu số phục vụ hội nhập và hỗ trợ hồ sơ số, thông tin sản phẩm số hoặc truy xuất nguồn gốc điện tử cho tối thiểu 50% HTX tham gia chương trình xúc tiến thương mại.
Bước tiếp theo cần có luận cứ khoa học từ việc đánh giá tác động của Luật Chuyển đổi số năm 2025 đối với việc xây dựng cơ sở dữ liệu số về HTX phục vụ xúc tiến thương mại. Liên minh HTX Việt Nam đang triển khai việc đánh giá này; đây là căn cứ quan trọng để định hướng chuyển đổi số và thiết kế chính sách, dịch vụ hỗ trợ HTX.
Nếu được thực hiện đầy đủ, việc đánh giá sẽ trả lời 3 câu hỏi: cần chuẩn hóa bộ dữ liệu tối thiểu nào; thu thập số liệu nền về mức độ dùng công nghệ ở từng khâu ra sao, trong đó có thể dùng bộ chỉ số; nhiệm vụ xây dựng nền tảng dùng chung cần có nội dung, quy mô nào.
(Tiếp tục cập nhật)
2 giờ trước
Sau con tem QR là dữ liệu thật – Tấm vé thông hành cho HTX ra biển lớn
Nhiều người vẫn lầm tưởng cứ dán một chiếc tem in mã QR lên quả bưởi, trái sầu riêng là đã hoàn thành truy xuất nguồn gốc. Thế nhưng, đằng sau chiếc tem đó có gì, thông tin có được xác thực hay chỉ là một bản khai rỗng, lại là câu chuyện hoàn toàn khác. Đây là thông điệp được ông Đào Ngọc Tuất, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh tại Diễn đàn.

Đại diện Cục Chuyển đổi số thẳng thắn chỉ ra một khoảng cách rất lớn giữa việc đăng ký trên hệ thống và năng lực cung cấp dữ liệu thực tế. Tính đến hết năm 2025, cả nước có khoảng 36.270 HTX với gần 7,1 triệu thành viên, đóng góp khoảng 4,8% GDP. Trong đó, HTX nông nghiệp chiếm áp đảo với 23.954 đơn vị, tương đương 66% tổng số. Khảo sát gần đây cho thấy khoảng 35% HTX đã bắt đầu sử dụng mã QR để truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Thế nhưng, con số thống kê từ Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ tính đến ngày 31/8/2026 lại phản ánh một thực tế đáng suy ngẫm. Trong tổng số 793.623 sản phẩm đăng ký trên hệ thống, chỉ có 158.451 sản phẩm có đầy đủ thông tin để truy xuất, đạt tỷ lệ vỏn vẹn 20%. Đáng lo ngại hơn, trong 3.013 nông hộ đăng ký, chỉ có đúng 36 hộ cung cấp đủ dữ liệu, tương ứng tỷ lệ 1,2%. Thậm chí trong giai đoạn từ ngày 1/7 đến 31/8/2026, trong hơn 288 nghìn sản phẩm đăng ký mới, hệ thống chỉ ghi nhận 323 sản phẩm có thông tin hoàn chỉnh, đạt khoảng 0,1%.
Theo ông Tuất, mã QR thực chất chỉ là chiếc cửa sổ để người tiêu dùng tra cứu. Giá trị cốt lõi của truy xuất nguồn gốc nằm ở khối dữ liệu sống động phía sau con tem đó. Dữ liệu ấy phải được ghi nhận đúng thời điểm canh tác, có sự kiểm tra, xác nhận của cơ quan chuyên môn và xuyên suốt từ mảnh ruộng đến kệ hàng. Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay hoàn toàn không nằm ở việc thiếu phần mềm hay công nghệ, mà nằm ở chính năng lực ghi chép, cập nhật dữ liệu của người sản xuất tại cơ sở.
Nhấn mạnh về áp lực thị trường, ông Tuất cho biết việc minh bạch chuỗi cung ứng đã trở thành luật chơi bắt buộc chứ không còn là sự lựa chọn tùy ý. Thị trường quốc tế đang chuyển dịch rất nhanh từ kiểm tra sản phẩm cuối cùng sang kiểm soát luồng dữ liệu toàn chuỗi.
Điển hình với quả sầu riêng xuất khẩu sang Trung Quốc theo Nghị định thư năm 2022, toàn bộ vườn trồng và cơ sở đóng gói đều phải có mã số được cấp và quản lý chặt chẽ. Hay với thị trường Liên minh châu Âu, Quy định chống phá rừng sau khi sửa đổi sẽ chính thức áp dụng từ ngày 30/12/2026 đối với doanh nghiệp lớn, vừa và từ ngày 30/6/2027 đối với doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ. Khi quy định này có hiệu lực, các mặt hàng như cà phê, cao su, gỗ bắt buộc phải có tọa độ định vị địa lý chính xác của từng thửa đất sản xuất.
Minh chứng rõ nhất cho sức mạnh của dữ liệu là kết quả thí điểm truy xuất nguồn gốc sầu riêng trong nửa đầu năm 2026. Nhờ quản lý dữ liệu đồng bộ của 255 vùng trồng, 149 doanh nghiệp, 547 nông hộ với 919 lô hàng, thời gian toàn trình từ lúc thu hái đến khi thông quan đã rút ngắn ngoạn mục từ 15 đến 20 ngày xuống chỉ còn từ 6 đến 11 ngày. Đổi lại, việc thiếu kết nối dữ liệu giữa vùng trồng và cơ sở đóng gói sẽ lập tức đẩy doanh nghiệp và HTX vào nguy cơ bị ách tắc hàng hóa tại cửa khẩu, làm phát sinh chi phí kiểm nghiệm và rủi ro thương mại rất lớn.
Trong chuỗi giá trị nông nghiệp, nông hộ nhỏ lẻ không thể tự mình thực hiện những thủ tục số hóa phức tạp. Đây chính là khoảng trống mà HTX phải khẳng định vị thế trung tâm.
Đại diện Cục Chuyển đổi số phân tích, HTX nắm giữ 3 vai trò then chốt không thể thay thế. Trước hết là tổ chức hướng dẫn, giám sát các thành viên cùng ghi nhật ký canh tác theo một mẫu thống nhất thay vì để mỗi hộ làm một kiểu. Tiếp đó, khi tập hợp sản phẩm của hàng chục hộ dân, HTX là đơn vị duy nhất biết rõ lô hàng gồm những quả của hộ nào, hái ở thửa đất nào và vào ngày nào. Đây là dữ liệu sống còn để xử lý các tình huống chia tách hoặc ghép lô phục vụ chế biến, xuất khẩu. Cuối cùng, HTX đóng vai trò đại diện pháp lý để kết nối với cơ quan quản lý, làm việc với các nhà cung cấp giải pháp công nghệ và đàm phán hợp đồng bao tiêu với doanh nghiệp.
Hiểu rõ khó khăn về nguồn vốn và nhân lực công nghệ của các HTX, đại diện Cục Chuyển đổi số khuyến cáo các đơn vị không nên vội vã chi tiền tự xây dựng phần mềm riêng lẻ để tránh lãng phí.
Hiện nay, hành lang pháp lý đã được hoàn thiện đồng bộ qua Luật HTX năm 2023, Luật sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2025, cùng Nghị định số 37/2026/NĐ-CP và Nghị định số 372/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đã phê duyệt Dự án xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu ngành với tổng mức đầu tư 1.500 tỷ đồng giai đoạn 2026-2029 nhằm chuẩn hóa, làm sạch dữ liệu đất đai, trồng trọt, thủy sản để dùng chung toàn quốc.
Theo định hướng từ Bộ, các HTX quy mô nhỏ nên chọn phương thức sử dụng các giải pháp phần mềm sẵn có đã kết nối thành công với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ. Khi đó, dữ liệu của HTX sẽ tự động đồng bộ lên hệ thống trung tâm theo nguyên tắc tạo lập một lần nhưng dùng được nhiều lần. Từ ngày 1/1/2027, khi Nền tảng quốc gia do Bộ Công an vận hành đi vào hoạt động, mã định danh số DID sẽ được cấp miễn phí, giúp giảm tối đa gánh nặng tài chính cho khu vực KTTT.
Dữ liệu sản xuất có lịch sử minh bạch không chỉ giúp HTX mở rộng cánh cửa vào các chuỗi siêu thị lớn hay rút ngắn thủ tục hải quan, mà còn là cơ sở vững chắc để ngành ngân hàng thẩm định, hỗ trợ giải ngân nguồn vốn vay ưu đãi.
Ông Đào Ngọc Tuất khẳng định cơ quan nhà nước đã sẵn sàng hạ tầng kỹ thuật và các kết nối nền tảng. Chìa khóa thành công hiện nằm ở chính sự chủ động của mỗi HTX trong việc bắt tay ngay vào chuẩn hóa dữ liệu từ ruộng đồng, để mỗi nông sản Việt Nam khi bước ra thị trường đều mang theo một bản lý lịch minh bạch, tự tin chinh phục người tiêu dùng toàn cầu.
(Tiếp tục cập nhật)
2 giờ trước
HTX chuyển đổi số cần bắt đầu từ dữ liệu, dùng chung trước khi đầu tư riêng
Theo ông Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, khi nói về chuyển đổi số trong HTX, cần làm rõ 3 vấn đề: chính sách nào đang có hiệu lực; nền tảng và dữ liệu nào có thể dùng chung; HTX cần chuẩn bị gì để được hỗ trợ.
Dẫn số liệu từ bài dẫn đề của Viện Khoa học Kinh tế hợp tác và báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ năm 2024, ông Hạnh cho biết 53% giám đốc HTX chưa qua đào tạo chuyên môn, trong khi chỉ 13% giám đốc HTX có trình độ đại học trở lên.
Theo ông, HTX hiện mới ở chặng đầu của quá trình chuyển đổi số. Trong hơn 23 điểm công nghệ theo Thông tư 17/2019/TT-BKHCN, HTX chỉ đạt khoảng 12-15 điểm. Đáng chú ý, chỉ 15% HTX sử dụng phần mềm quản trị. “Một HTX như vậy không thể tự thẩm định hợp đồng phần mềm”, ông Hạnh nói, đồng thời cho rằng hỗ trợ cần ưu tiên các giải pháp có thể thuê và sử dụng ngay.
Theo ông Hạnh, lợi ích của chuyển đổi số đã thể hiện ở đầu ra là thị trường, nhưng nền tảng dữ liệu ở đầu vào vẫn còn yếu. Số liệu cho thấy 35% HTX ứng dụng truy xuất nguồn gốc; giá trị nông sản có thể tăng 15-20% khi vào bán lẻ hiện đại và xuất khẩu; doanh thu từ kênh số bình quân ở các HTX đã chuyển đổi số đạt 12%. Trong khi đó, tỷ lệ HTX sử dụng phần mềm quản trị mới là 15%.
“Tôi cho rằng mua công nghệ ở đầu ra khi chưa có dữ liệu ở đầu vào là đầu tư lệch thứ tự”, ông Hạnh nêu quan điểm.
Theo ông Hạnh, các cơ chế hỗ trợ hiện nay có thể được nhìn thành 3 lớp, với mức độ chắc chắn khác nhau gồm: Những chính sách đã có hiệu lực và có thể áp dụng trực tiếp; những chính sách đã có khung nhưng cần địa phương cụ thể hóa; những nội dung còn đang ở dạng dự thảo.
Với những chính sách đã có hiệu lực, HTX có thể tiếp cận các nội dung như tư vấn chuyển đổi số, sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; phần mềm do Nhà nước phát triển và cấp miễn phí; xúc tiến thương mại, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc và Cổng thông tin HTX quốc gia.
Từ ngày 1/7/2026, Luật Chuyển đổi số và Nghị định 224/2026/NĐ-CP xác định HTX là đối tượng hỗ trợ cùng doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh. Các nội dung hỗ trợ gồm công cụ đánh giá mức độ chuyển đổi số theo ngành, danh mục nền tảng và giải pháp số, đào tạo kỹ năng số.
Ông Hạnh lưu ý 2 nguyên tắc: hỗ trợ theo mức độ số hóa thực tế và không trùng ngân sách cho cùng một nội dung trong cùng năm.
Một nội dung được ông Hạnh nhấn mạnh là việc khai thác các nền tảng số dùng chung. Theo ông, nguyên tắc nên là “dùng chung trước, đầu tư riêng sau”, trong đó có thể thuê thay vì tự xây dựng hoặc mua trọn gói.
Với hạ tầng số quốc gia, HTX không sử dụng trực tiếp nhưng được hưởng lợi thông qua các dịch vụ công trực tuyến, định danh điện tử, hóa đơn điện tử và chữ ký số. Tuy nhiên, ông Hạnh cho rằng mọi nền tảng dùng chung cần đáp ứng hai điều kiện: liên thông theo chuẩn dữ liệu quốc gia và HTX luôn xuất được dữ liệu của mình, qua đó không bị phụ thuộc vào một nhà cung cấp.
Từ các chính sách và công cụ hiện có, ông Hạnh đưa ra 3 bước để HTX có thể thực hiện.
Thứ nhất là kiểm tra điều kiện. HTX phải hoạt động hợp pháp theo Luật HTX 2023 và lập hồ sơ theo dõi các hỗ trợ đã nhận để chứng minh không trùng lặp.
Thứ hai là tự đánh giá mức độ sẵn sàng. HTX sử dụng công cụ đánh giá theo ngành để biết mình đang ở mức 1, 2 hay 3 và lựa chọn đúng gói hỗ trợ.
Thứ ba là chọn giải pháp từ danh mục, ưu tiên giải pháp thuê theo tháng, xuất được dữ liệu, có hỗ trợ tại chỗ và bảo đảm an toàn dữ liệu.
Đối với giai đoạn 2026-2030, ông Hạnh đề xuất 4 định hướng chính sách.
Thứ nhất là hỗ trợ theo bậc thang, mỗi mức trưởng thành có một gói riêng; trong đó, ở mức 1, HTX cần số hóa sổ sách và danh sách thành viên trước.
Thứ hai là một đầu mối dữ liệu. Theo đó, Liên minh HTX Việt Nam chuẩn hóa, kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia theo hướng “khai một lần, dùng nhiều nơi”.
Thứ ba là dùng chung, chuẩn hóa, xây dựng danh mục các nền tảng, giải pháp đã được thẩm định về an toàn dữ liệu và khả năng liên thông để HTX có thể lựa chọn mà không phải tự thẩm định.
Thứ tư là nhân lực tại chỗ. Với thực tế 53% giám đốc HTX chưa qua đào tạo chuyên môn, ông Hạnh cho rằng cần có mạng lưới tư vấn viên trong hệ thống Liên minh HTX.
Theo ông Hạnh, quá trình hỗ trợ HTX chuyển đổi số cần tránh 3 rủi ro.
Thứ nhất là có tiền hỗ trợ nhưng không có người dùng. Phần mềm có thể bị bỏ không vì HTX không có năng lực sử dụng. Giải pháp được ông Hạnh đưa ra là tăng cường nhân lực tại chỗ và ưu tiên giải pháp thuê.
Thứ hai là phụ thuộc vào một nhà cung cấp khiến dữ liệu của HTX bị giữ lại trên nền tảng và không chuyển đi được. Cách tránh là HTX phải xuất được dữ liệu và các nền tảng phải liên thông theo chuẩn chung.
Thứ ba là chạy theo công nghệ mới, đầu tư công nghệ mới trong khi nền tảng dữ liệu còn yếu. Theo ông, cần bắt đầu từ sổ sách, danh sách thành viên và nhật ký sản xuất.
“Cả ba rủi ro đều giảm khi đi đúng thứ tự: dữ liệu trước, công nghệ sau”, ông Hạnh nhấn mạnh.
Để phối hợp với Liên minh HTX Việt Nam, ông Hạnh đề nghị 3 việc: thí điểm bộ công cụ đánh giá mức độ chuyển đổi số theo nhóm ngành HTX; rà soát để các nền tảng dùng chung liên thông theo chuẩn dữ liệu quốc gia; cùng các bộ, ngành sớm có hướng dẫn rõ nguồn và thủ tục hỗ trợ ở cấp xã.
(Tiếp tục cập nhật)
2 giờ trước
Cần xây dựng, triển khai hệ sinh thái chuyển đổi số dùng chung hỗ trợ HTX
Theo ông Trịnh Anh Tuấn, Viện Khoa học Kinh tế hợp tác, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo đang trở thành yêu cầu quan trọng đối với khu vực kinh tế tập thể, song thực tế tại các HTX cho thấy quá trình này mới chỉ bắt đầu và còn một khoảng cách khá lớn để có thể hình thành năng lực số đầy đủ.

Một tín hiệu được đánh giá là khả quan là tỷ lệ thành viên sử dụng smartphone rất cao, đạt 4,67/5 điểm. Đây là một thuận lợi lớn cho việc chuyển đổi số và ứng dụng thương mại điện tử của HTX trong thời gian tới.
Mặc dù điều kiện thực tế phục vụ chuyển đổi số tại HTX đang có những điểm thuận lợi nhưng ông Tuấn cho rằng vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Điển hình, tỷ lệ nhân viên sử dụng internet cho công việc đạt 2,27 điểm, nhưng khi được hỏi chi tiết, các HTX cho biết công việc chủ yếu là gọi điện trao đổi với khách hàng, nhắn tin, gửi hình ảnh thông qua các ứng dụng trò chuyện như Zalo, Messenger bằng điện thoại di động. Trong khi đó, tỷ lệ nhân viên sử dụng máy tính cho công việc chỉ đạt 1,46 điểm.
Một điểm đáng chú ý khác là mức độ đào tạo về công nghệ thông tin (CNTT) còn rất thấp. Tỷ lệ nhân viên được đào tạo về CNTT “gần như không có”, chỉ đạt 1,08 điểm và 1,13 điểm. “Những con số này cho thấy việc tiếp cận công nghệ tại HTX hiện vẫn có sự chênh lệch giữa khả năng sử dụng thiết bị phổ biến như smartphone với việc ứng dụng công nghệ vào hoạt động chuyên môn, quản trị và sản xuất kinh doanh”, ông Tuấn nhấn mạnh.
Bức tranh về tần suất sử dụng các ứng dụng số cũng cho thấy quá trình chuyển đổi số của HTX mới ở bước đầu.
Theo bộ chỉ số được nhóm thực hiện xây dựng trên cơ sở Quyết định 1970/QĐ-BTTTT ngày 13/12/2021 về phê duyệt đề án xác định chỉ số đánh giá mức độ chuyển đổi số doanh nghiệp và hỗ trợ thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi số, mức độ chuyển đổi số được đánh giá theo 60 chỉ tiêu, với thang điểm từ mức 1 đến mức 5.
Kết quả cho thấy điểm trung bình của mức độ chuyển đổi số là 1,28/5 điểm. Trong các chỉ tiêu được nêu, tần suất sử dụng các dịch vụ ngân hàng trực tuyến đạt 1,44 điểm, mức độ giao tiếp với khách hàng qua môi trường số đạt 1,37 điểm. Trong khi đó, chỉ tiêu cập nhật danh mục sản phẩm trên môi trường số chỉ đạt 1,18 điểm.
Ở nhóm tiếp thị điện tử, tần suất cập nhật đạt 1,18 điểm, tần suất hoạt động đạt 1,45 điểm và tỷ lệ đầu tư vào hoạt động tiếp thị số đạt 1,19 điểm.
Đối với thương mại điện tử, tần suất sử dụng sàn thương mại điện tử đạt 1,24 điểm; tỷ lệ doanh thu của mảng thương mại điện tử đạt 1,2 điểm; tần suất cập nhật danh mục sản phẩm trên môi trường số đạt 1,22 điểm và mức độ giao tiếp với khách hàng qua môi trường số đạt 1,37 điểm.
Các hoạt động trực tuyến cũng ở mức tương đối thấp. Tần suất tác nghiệp với doanh nghiệp khác trên môi trường số đạt 1,26 điểm, với cơ quan Nhà nước đạt 1,26 điểm, trong khi mức độ HTX mua sắm hàng hóa trực tuyến đạt 1,27 điểm.
Khi đánh giá theo từng trụ cột, tổng điểm trung bình đạt 94,3/320 điểm, tương đương 29,5%, được xếp ở mức “Bắt đầu”.
Trong đó, trải nghiệm số cho khách hàng đạt 16,4/65 điểm, tương đương 25,2%; chiến lược số đạt 7,9/25 điểm, tương đương 31,6%; hạ tầng và công nghệ số đạt 23,4/80 điểm, tương đương 29,3%; vận hành đạt 16,3/65 điểm, tương đương 25,1%.
Đánh giá tổng hợp mức độ chuyển đổi số của các HTX theo 6 mức đánh giá của Quyết định 1970/QĐ-BTTTT, ông Tuấn cho biết tổng điểm trung bình của 200 HTX là 87,2 điểm. Kết quả cho thấy các HTX khu vực đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang ở giai đoạn đầu của mức 2, tức giai đoạn đầu của sự “Bắt đầu chuyển đổi số”, và còn khoảng cách rất xa mới chạm được mức 3 của thang điểm đánh giá.
Từ thực trạng trên, ông Tuấn cho rằng nhu cầu hỗ trợ của HTX tập trung vào nhiều nội dung phục vụ chuyển đổi số, phát triển thương mại điện tử và phát triển sản xuất kinh doanh.
Các nhóm nhu cầu được đưa ra gồm hỗ trợ nhân lực và đào tạo về CNTT; hỗ trợ hạ tầng, phần cứng, thiết bị; hỗ trợ công cụ phần mềm chuyển đổi số; hỗ trợ hoàn thiện tiêu chuẩn sản phẩm; xây dựng thương hiệu; hỗ trợ quảng cáo, tiếp thị; hỗ trợ tài chính đầu tư chuyển đổi số và hỗ trợ logistics.
Trong các giải pháp được đề xuất, ông Tuấn nhấn mạnh việc tuyên truyền, thay đổi và nâng cao nhận thức về chuyển đổi số trên các phương tiện truyền thông; hỗ trợ xúc tiến thương mại, chuẩn hóa sản phẩm và tìm đầu ra trong nước, xuất khẩu.
Về nguồn lực, cần tối đa hóa nguồn lực của Trung ương, các bộ, ngành, địa phương và nguồn xã hội hóa để hỗ trợ HTX chuyển đổi số. Một đề xuất khác là thiết lập các hub đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại các tỉnh.
Đối với Liên minh HTX Việt Nam, ông Tuấn đề xuất xây dựng, triển khai hệ sinh thái chuyển đổi số dùng chung hỗ trợ HTX, đồng thời ứng dụng CNTT trong quản lý, điều hành.
Cùng với đó là đẩy mạnh đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao trình độ CNTT và kỹ năng chuyển đổi số cho cán bộ Liên minh HTX, cán bộ quản lý và thành viên HTX. Hỗ trợ hạ tầng, thiết bị và công nghệ cũng được đặt ra, phục vụ chuyển đổi số trong các dự án xây dựng mô hình HTX sản xuất kinh doanh gắn với chuỗi giá trị.
Đặc biệt, ông Trịnh Anh Tuấn chỉ ra những vấn đề đang đặt ra đối với khu vực KTTT gồm năng lực yếu, khó ứng dụng khoa học công nghệ, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp và thiếu vốn.
Từ đó, ông kiến nghị đối với Chính phủ cần có cơ chế chính sách đặc thù, đầu tư hạ tầng số đồng bộ.
Đối với Liên minh HTX Việt Nam, cần chủ động xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ, các mô hình điểm về ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Về phía HTX, yêu cầu chủ động đổi mới tư duy, tham gia tích cực vào quá trình đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
(Tiếp tục cập nhật)
Dữ liệu sẽ trở thành nguồn lực, công nghệ là công cụ, thị trường là đích đến
Phát biểu khai mạc, bà Cao Xuân Thu Vân, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam cho biết Diễn đàn “Chuyển đổi số trong HTX: Từ dữ liệu sản xuất đến mở rộng thị trường” được tổ chức trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đồng thời, đây cũng là hoạt động cụ thể nhằm đưa Nghị quyết Đại hội VII của Liên minh HTX Việt Nam đi vào thực tiễn.

Theo Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam, Diễn đàn được tổ chức không phải để tiếp tục thảo luận về việc có cần chuyển đổi số hay không, vì điều đó đã rất rõ ràng. Tại Đại hội Liên minh HTX Quốc tế năm 2026 – diễn đàn quốc tế lớn nhất cùng nhiều chương trình bên lề, các nội dung về chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn không còn được đưa ra tranh luận riêng lẻ, bởi chúng đã mặc định trở thành những yêu cầu bắt buộc và thiết yếu hàng đầu trong mọi chương trình hành động.
Đối chiếu với thực tế, khu vực HTX trong nước vẫn đang ở mức rất thấp so với thế giới về chuyển đổi số. Việc vẫn còn loay hoay bàn luận về các giải pháp cho thấy quá trình thực hành chuyển đổi số vẫn còn nhiều lúng túng. Thông qua diễn đàn này, khu vực HTX sẽ có thêm cơ hội để định hình rõ ràng hơn về con đường chuyển đổi số.
Bà Cao Xuân Thu Vân cho rằng HTX chuyển đổi số bắt đầu từ đâu là câu hỏi cần tập trung giải quyết: Cần hỗ trợ những gì? Ai sẽ đồng hành? Nguồn lực từ đâu? Và quan trọng nhất, chuyển đổi số mang lại giá trị gì cho HTX cùng các thành viên? Giải quyết được các câu hỏi này sẽ khẳng định chuyển đổi số là yêu cầu tất yếu và là con đường bắt buộc phải đi.
Kết quả khảo sát do Viện Khoa học Kinh tế hợp tác thực hiện cho thấy, chỉ số trưởng thành chuyển đổi số của khu vực kinh tế tập thể mới đạt khoảng 29,5%, đang ở mức bắt đầu. Trong khi các thiết bị số ngày càng phổ biến, việc ứng dụng vào quản trị, tổ chức sản xuất, kinh doanh và phát triển thị trường vẫn còn nhiều hạn chế.
Các HTX cũng nêu rõ những nhu cầu rất cụ thể như: phần mềm, công cụ số phù hợp, hỗ trợ hạ tầng, đào tạo kỹ năng, cũng như các hoạt động quảng bá, tiếp thị và kết nối thị trường trên không gian số. Điều này chứng minh điểm nghẽn của chuyển đổi số HTX hiện nay không đơn thuần nằm ở thiết bị hay công nghệ, mà còn ở dữ liệu, kỹ năng, nguồn lực, phương thức quản trị và đặc biệt là khả năng biến công nghệ thành hiệu quả kinh tế.
Trước thực trạng trên, người đứng đầu Liên minh HTX Việt Nam định hướng, chuyển đổi số trong HTX không nên bắt đầu bằng câu hỏi “Mua công nghệ gì?”, mà phải bắt đầu từ việc “HTX đang cần giải quyết vấn đề gì?”. Bởi công nghệ chỉ thực sự có giá trị khi giải quyết được các vấn đề thực tế. Hành trình chuyển đổi số của HTX cần lộ trình rõ ràng gồm 3 trụ cột: Dữ liệu, Quản trị và Thị trường.
Trước hết là dữ liệu. Dù có phần mềm tiên tiến hay tiện ích đến đâu nhưng thiếu dữ liệu thì cũng giống như có một bộ bàn ghế đẹp, hay bát chén đầy đủ nhưng lại không có thức ăn. Dữ liệu chính là tài nguyên quý giá và là yếu tố đầu tiên cần phải có. Đối với HTX, dữ liệu không phải điều gì xa xôi, mà là thông tin thành viên, vùng nguyên liệu, mùa vụ, quy trình sản xuất, sản lượng, chất lượng, chi phí, khách hàng và thị trường.
Sở dĩ sản phẩm làm ra nhưng chưa chứng minh được giá trị là do thiếu tính minh bạch. Cùng một hạt cà phê nhân xanh, có nơi bán 200.000 – 400.000 đồng/kg, nhưng có nơi bán được 1 triệu, 2 triệu đồng/kg, thậm chí lên tới 15.000 USD/kg. “ Điều này cho thấy, sự khác biệt nằm ở sự công khai, minh bạch và khả năng kiểm chứng thực tế. Việc xây dựng câu chuyện sản phẩm phải dựa trên nền tảng có thể chứng minh được chứ không phải là câu chuyện cổ tích, và công nghệ thông tin cùng chuyển đổi số chính là công cụ để thực hiện điều đó”, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam nhấn mạnh, và dẫn chứng có HTX chỉ cần sử dụng chiếc điện thoại thông minh có thể giới thiệu sản phẩm, quy trình sản xuất, truy xuất nguồn gốc… một cách đầy đủ cho khách hàng đến trải nghiệm. Sau 2 năm thành lập, HTX này đã có 8 đoàn quốc tế đến tham quan và họ thực sự tin tưởng mô hình sản xuất của HTX vì thấy HTX nói thật, làm thật nhờ chuyển đổi số.
Trong điều kiện hiện nay, dữ liệu được chuẩn hóa sẽ giúp HTX biết rõ mình sản xuất cái gì, sản lượng bao nhiêu, chất lượng ra sao, chi phí thế nào và thị trường đang cần gì. Đây cũng là nền tảng để thực hiện truy xuất nguồn gốc, minh bạch hóa sản phẩm và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường.
Thứ hai là về quản trị. Dữ liệu và công nghệ phải giúp HTX quản lý thành viên tốt hơn, tổ chức sản xuất hiệu quả hơn, giảm chi phí, nâng cao năng suất, kiểm soát chất lượng và ra quyết định nhanh chóng hơn. Nếu đầu tư công nghệ nhưng quản trị không tiến bộ, chi phí không giảm, hiệu quả không tăng thì cần xem lại cách thức chuyển đổi số.
Thứ ba là thị trường. Chuyển đổi số phải giúp sản phẩm của HTX tiếp cận được nhiều khách hàng hơn, kết nối hiệu quả với doanh nghiệp và hệ thống phân phối, tham gia thương mại điện tử và từng bước đi sâu vào chuỗi giá trị.
Do đó, thước đo chuyển đổi số không phải là HTX sở hữu bao nhiêu phần mềm, mà phải là quản trị tốt hơn bao nhiêu, chi phí giảm được bao nhiêu, năng suất và chất lượng tăng thế nào, thị trường mở rộng ra sao, và cuối cùng là thu nhập của HTX cùng các thành viên có tăng lên hay không.
Tuy nhiên, để đạt được những con số đó cần có một lộ trình: tối thiểu là 3 năm, trung bình là 5 năm, và hành trình bền vững từ chuyển đổi số đến thu nhập ổn định phải kéo dài 10 năm. Điều này đòi hỏi sự đầu tư rất bài bản và khoa học từ phía các HTX.
Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Cao Xuân Thu Vân cho biết, một HTX đơn lẻ rất khó tự giải quyết toàn bộ bài toán nêu trên. Chuyển đổi số HTX cần được đặt trong một hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện: Nhà nước kiến tạo thể chế, hạ tầng dữ liệu và chính sách; Hệ thống Liên minh HTX Việt Nam kết nối nhu cầu của HTX với chính sách, công nghệ, tài chính và thị trường; Doanh nghiệp công nghệ cung cấp các giải pháp đơn giản, dễ sử dụng, thiết kế theo từng cấp độ. Giống như lộ trình học từ mầm non, lên cấp 1, cấp 2, cấp 3 rồi đại học, chuyển đổi số cũng phải đi theo từng bậc. Nếu nói quá nhiều, đưa ra quá nhiều giải pháp cùng lúc sẽ khiến HTX bị rối…
Chính vì vậy, cần đưa ra trọn bộ giải pháp để HTX lựa chọn. Những HTX nào đủ điều kiện có thể bỏ qua các bước trung gian để bứt phá nhanh chóng, với điều kiện họ phải có chuyên gia hoặc thuê người hướng dẫn.
“Tôi từng chứng kiến một HTX thuê nhân sự IT với chi phí 15 triệu đồng/tháng nhưng chỉ làm việc 2 ngày. Điều quan trọng là ban lãnh đạo HTX đó nắm rõ trong 2 ngày ấy IT phải hoàn thành công việc gì và giải quyết bao nhiêu bài toán cho HTX, chứ không nhất thiết phải có mặt hàng ngày”, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam dẫn chứng.
Do đó, các tổ chức tài chính, tín dụng cần thiết kế sản phẩm phù hợp để HTX có nguồn lực đầu tư. Doanh nghiệp và hệ thống phân phối cần đặt ra yêu cầu rõ ràng về chất lượng, dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn thị trường. Bản thân các HTX cũng phải chủ động thay đổi tư duy quản trị, xem dữ liệu là tài sản và công nghệ là công cụ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nếu từng chủ thể hoạt động riêng lẻ thì rất khó tạo ra chuyển biến; nhưng khi kết nối thành hệ sinh thái, chúng ta có thể giảm đáng kể chi phí và rủi ro chuyển đổi số cho HTX.
Từ tinh thần đó, diễn đàn hôm nay tập trung giải quyết 4 bài toán trọng tâm:
Làm thế nào để HTX tạo lập, chuẩn hóa và khai thác dữ liệu sản xuất một cách đơn giản, hiệu quả.
Tìm ra các giải pháp số dễ áp dụng, chi phí hợp lý, triển khai nhanh, phù hợp với HTX quy mô vừa và nhỏ.
Xây dựng cơ chế giúp HTX tiếp cận thuận lợi hơn với chính sách, tài chính, công nghệ và nguồn nhân – vật lực phục vụ chuyển đổi số.
Qua 4 bài toán này, điều quan trọng hơn là hình thành được những kết nối thực chất giữa HTX với các doanh nghiệp công nghệ, tổ chức tài chính và hệ thống phân phối; đồng thời lựa chọn được một số mô hình khả thi để thí điểm, đo lường kết quả, hoàn thiện và nhân rộng.
Liên minh HTX Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và các đối tác để từng bước hoàn thiện hệ sinh thái chuyển đổi số cho khu vực kinh tế tập thể, HTX; gắn chuyển đổi số với 3 yêu cầu cốt lõi: nâng cao năng lực quản trị, phát triển chuỗi giá trị và mở rộng thị trường. Đây cũng là phương châm đổi mới hoạt động của Liên minh HTX Việt Nam trong nhiệm kỳ 2026 – 2031: Chuyển từ hội nghị sang hành động; từ hỗ trợ riêng lẻ sang xây dựng hệ sinh thái; từ ứng dụng công nghệ thuần túy sang tạo ra giá trị thực tế và thị trường cho HTX cùng các thành viên.
Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam khẳng định, chuyển đổi số không phải là đích đến. Đối với HTX, chuyển đổi số chỉ thực sự thành công khi giúp thành viên sản xuất tốt hơn, HTX quản trị hiệu quả hơn và sản phẩm vươn xa hơn trên thị trường. Và từ diễn đàn hôm nay, dữ liệu sẽ trở thành nguồn lực, công nghệ là công cụ, thị trường là đích đến, và hiệu quả của HTX cùng thành viên chính là thước đo để kinh tế tập thể phát triển.
(Tiếp tục cập nhật)
3 giờ trước
Diễn đàn thu hút sự quan tâm lớn
Diễn đàn có sự tham dự của đại diện các hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã, cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp công nghệ, tổ chức tài chính, đơn vị phân phối và các tổ chức liên quan trên cả nước. Chương trình tập trung trao đổi về thực trạng chuyển đổi số trong khu vực kinh tế tập thể, các cơ chế, chính sách hỗ trợ, giải pháp công nghệ phù hợp với quy mô và nhu cầu của hợp tác xã, khả năng tiếp cận nguồn vốn, ứng dụng dữ liệu, truy xuất nguồn gốc, quản trị số và kết nối thị trường. Cấu trúc này phù hợp với định hướng chương trình đã xây dựng, trong đó Diễn đàn đi từ thực trạng, chính sách đến công nghệ, tài chính và thị trường.
Thông qua các phiên tham luận, tọa đàm và kết nối trực tiếp, Diễn đàn hướng tới tạo không gian trao đổi thực chất giữa cơ quan quản lý, hợp tác xã, doanh nghiệp công nghệ, tổ chức tài chính và các đơn vị phân phối. Qua đó, các hợp tác xã có thêm thông tin để lựa chọn công nghệ phù hợp, tiếp cận nguồn lực hỗ trợ, nâng cao năng lực quản trị, giảm chi phí sản xuất kinh doanh, tăng khả năng truy xuất và minh bạch dữ liệu, đồng thời mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị.
Diễn đàn cũng là dịp để các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức hỗ trợ trực tiếp lắng nghe nhu cầu, khó khăn của khu vực hợp tác xã, từ đó đề xuất các giải pháp, cơ chế và chương trình đồng hành phù hợp hơn với thực tiễn.
Nguồn: Tạp chí kinh doanh
