Cứ mỗi tháng 7, trở về quê hương, lòng tôi lại gợn một nỗi niềm khó tả…
Ngót nghét cũng mấy chục năm, từ ngày ông nội dời quê, cùng bao dân công của hợp tác xã lên đường phục vụ hỏa tuyến. Rồi từng thành viên trong gia đình tôi, được sinh ra, lớn lên bên cạnh dòng sông quê hương, người đi chiến trường hóa thành cỏ cây, người trở lại đau đáu khôn nguôi.
Xa quê từ hồi còn nhỏ, mỗi lần được nghe ba kể chuyện, đều thấy ba nhắc đến bến quê. Bến ở trước cửa nhà, là nơi ông nội thường chèo thuyền, thả lưới. Rồi từng chiều, lũ trẻ lại rủ nhau ra tắm sông. Gọi là lũ trẻ, nhưng giờ, họ cũng có cháu gọi ông, gọi bà cả rồi. Sau ngày ông nội đi dân công hỏa tuyến, sốt rét lâu ngày khiến sức khỏe yếu dần, đôi chân quanh năm đau nhức, đi đâu cũng phải có người dìu, không ai dám để ông ngồi cạnh bến một mình. Dòng sông vẫn ở đó, nhưng với ông, gần mà lại xa. Bác cả, một trong những người bơi lội giỏi nhất làng, từ đó, thay ông kiếm những giỏ tôm, lồng cá. Cho đến trước ngày bác lên đường nhập ngũ, cũng là lần cuối bác xuống bến dạo chơi, đắm mình trong làn nước trong xanh, khuôn mặt ấy, dáng hình ấy rồi in hằn mãi dưới đáy sông.
Bác tôi hy sinh ngay sau khi cậu con trai vừa chào đời. Ba lô mà đơn vị gửi về, ngoài vài ba đồ dùng cá nhân hoen ố là bộ quân phục sờn rách, chỗ lành để dành cho ba tôi có bộ quần áo đến trường, chỗ tận dụng làm tã cho con trai. Ngày nhận lại kỷ vật của bác, ba kể, ông bà tôi ra bến, ngẩng đầu kêu trời… Ba mẹ chồng già cả, các em còn nhỏ, bác dâu tôi cáng đáng việc nhà, hằng ngày xuống bến xúc tép, mò cua, hái những ngọn rau dại. Rồi cũng phần vì cảm, phần vì kiệt sức do mới sinh, bác ngã khụy bên bờ đá mấp mô, đi theo chồng khi con chưa đầy tuổi. Đau buồn quá, hai năm sau ngày bác cả mất, ông nội tôi cũng về với tổ tiên. Khi ấy, ba tôi chuẩn bị lên đường nhập ngũ.
Những dòng hồi ức tái hiện trong câu chuyện của ba, tôi chợt nhớ ngày tôi lên năm, cũng là lần đầu tiên tôi được về sống ở quê nội. Dòng sông nước chảy hiền hòa, tôi khoái chí rủ đám bạn hàng xóm xuống bến chơi. Nhưng ánh mắt bà nội đã khiến tôi hiểu rằng không được phép mon men lại gần đó. Ngày ấy, bà đã đóng một hàng rào tre, người ta nói hàng rào ấy bắt đầu dựng lên khi con rể bà từ chiến trường trở về bị thương nặng, cứ mỗi lần qua nhà bà, bác lầm tưởng bến sông là nơi đóng quân của đơn vị. Ngày cũng như đêm, bác vẫn thường ra bến một mình gọi tên từng đồng đội.
Có lẽ, với bà, bến sông ấy chứa đựng bao kí ức cả cuộc đời, niềm vui cũng nhiều, nỗi buồn chẳng ít. Ở cái tuổi lẽ ra được nghỉ ngơi, bà một mình nuôi cháu nội – đứa cháu đích tôn bé bỏng chưa một lần nhìn thấy mặt cha, sớm xa hơi ấm của mẹ. Những đêm trăng sáng nhìn qua song cửa sổ, bến sông còn đó, nhưng thay vào những câu chuyện rôm rả mà cả gia đình ngồi sum vầy đón gió, chỉ còn nghe thấy lời ru khe khẽ của bà lẫn trong tiếng ộp oạp từ bến vọng lên. Trong những ngày tháng khốn khó ấy, nếu không có tình làng nghĩa xóm, không có những đấu gạo ân tình, những công điểm mà Hợp tác xã ưu tiên để chăm lo cho gia đình thương binh liệt sĩ, có lẽ hai bà cháu khó lòng đi qua được sự tàn khốc của chiến tranh.
Chiến tranh kết thúc, ngày đất nước giải phóng, con trai út của bà (chính là ba tôi) từ trong khói bom trở về đoàn tụ với gia đình, thay vì chìm trong nỗi đau xưa cũ, ba tôi đã cùng bà con xắn tay áo, tham gia Hợp tác xã nông nghiệp để kiến thiết lại quê hương. Bến sông mang nhiều vết thương năm nào dần thay da đổi thịt, trở thành bến đỗ của những chiếc thuyền ngược xuôi đầy ắp nông sản, tôm cá của tổ hợp tác, hợp tác xã.
Là thế hệ sinh ra trong hòa bình, nay vinh dự được công tác tại Liên minh Hợp tác xã, mỗi dịp tháng 7 về, những câu chuyện ba kể lại nhắc nhớ tôi về một thời đạn bom khói lửa. Tôi hiểu rằng, cuộc sống ấm no và phong trào kinh tế hợp tác phát triển mạnh mẽ như hôm nay, đã được đánh đổi bằng máu, bằng nước mắt và cả những bến quê thanh bình ngàn năm ở lại.
LAN PHƯƠNG (Viện Khoa học kinh tế hợp tác)
Ảnh: Internet