Phụ nữ cần được công nhận là nhân tố tích cực của nền kinh tế xanh, thay vì chỉ là nhóm yếu thế cần được bảo vệ trước tác động của biến đổi khí hậu.

Sáng 29/9, tại Hà Nội, Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho Phụ nữ (UN Women) phối hợp cùng Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) tổ chức buổi đối thoại đối tác “Thúc đẩy bình đẳng giới trong ứng phó với biến đổi khí hậu” (EmPower).

Sự kiện nằm trong khuôn khổ chuyến công tác giám sát chung của Văn phòng Khu vực châu Á – Thái Bình Dương của UN Women, UNEP và các đối tác phát triển, nhằm xác định ưu tiên phối hợp năm 2026-2027 và chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo tại Việt Nam.

3 tiêu chí đo lường hiệu quả lồng ghép giới

Theo UN Women, kết quả triển khai Chương trình EmPower giai đoạn I (2018-2022) ghi nhận 11 chính sách có lồng ghép vấn đề giới được ban hành, hơn 1.000 phụ nữ được hỗ trợ phát triển mô hình sinh kế từ năng lượng tái tạo, và hơn 50 tổ chức xã hội cùng cán bộ Hội Phụ nữ được nâng cao năng lực chuyên môn.

Bước sang giai đoạn II (2023-2027), chương trình tập trung vào các hoạt động quản trị rủi ro khí hậu có trách nhiệm giới, thúc đẩy sự tham gia lãnh đạo của phụ nữ trong quyết định về biến đổi khí hậu và giảm nhẹ rủi ro thiên tai, hỗ trợ mô hình sinh kế thích ứng.

Đại diện UN Women, UNEP cùng các đối tác tham dự buổi đối thoại. Ảnh: Trung Nguyên. 

Đại diện UN Women, UNEP cùng các đối tác tham dự buổi đối thoại. Ảnh: Trung Nguyên. 

Nêu rõ các thách thức về giới tại Việt Nam trong tiến trình hướng đến mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, bà Caroline T. Nyamayemombe, Trưởng Đại diện UN Women tại Việt Nam cho biết: Các số liệu thực tế cho thấy, khoảng cách giới vẫn tồn tại đáng kể, đặc biệt là ở khu vực nông thôn và vùng sâu vùng xa. So với nam giới, mức tiền lương của phụ nữ ở hai khu vực này chênh lệch đáng kể. Tỷ lệ tiếp cận tín dụng của nữ chỉ đạt 18,2% so với mức 23,2% của nam giới; 65% phụ nữ dân tộc thiểu số làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, và thiệt hại do bạo lực trên cơ sở giới chiếm khoảng 1,81% GDP.

“Nếu quá trình chuyển đổi xanh và chuyển đổi số không giải quyết các rào cản này, khoảng cách bất bình đẳng có nguy cơ gia tăng”, bà Caroline nhấn mạnh và đề xuất 3 tiêu chí đo lường hiệu quả khi triển khai các giải pháp: mức độ hưởng lợi của phụ nữ; mức độ tăng cường sự tham gia, và khả năng duy trì, nhân rộng kết quả đạt được.

Thúc đẩy trao quyền cho phụ nữ

Khẳng định chuyển đổi xanh và chuyển đổi năng lượng công bằng là một trụ cột quan trọng trong định hướng phát triển của Việt Nam, ông Nguyễn Tuấn Quang, Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhìn nhận: Quá trình giảm dần sử dụng nhiên liệu hóa thạch, phát triển thị trường các-bon và mở rộng năng lượng tái tạo phải thực sự tạo ra cơ hội cho phụ nữ và các nhóm dễ bị tổn thương, chứ không chỉ dừng lại ở việc “không gây tác động tiêu cực” cho các nhóm này.

UN Women đề nghị Việt Nam hiện thực hóa chính sách, trao quyền thực chất cho phụ nữ ở cấp cơ sở. Ảnh: Trung nguyên.

UN Women đề nghị Việt Nam hiện thực hóa chính sách, trao quyền thực chất cho phụ nữ ở cấp cơ sở. Ảnh: Trung nguyên.

Theo ông Quang, trong chuyển đổi công bằng, phụ nữ cần được công nhận là chủ thể tích cực của nền kinh tế xanh – là những nữ doanh nhân năng lượng sạch, người đứng đầu hợp tác xã, chủ hộ sản xuất nhỏ – chứ không đơn thuần là nhóm cần được bảo vệ trước rủi ro của quá trình chuyển đổi. Đồng thời, lợi ích về việc làm mới, thị trường mới, khả năng tiếp cận công nghệ sạch và tài chính khí hậu cũng cần đến được với cả cộng đồng nông thôn, miền núi và nơi dễ tổn thương do thiên tai. Tại đây, phụ nữ đã và đang giữ vai trò trụ cột gia đình trong sản xuất nông nghiệp và chống chịu thiên tai.

Các hoạt động hợp tác giữa Cục Biến đổi khí hậu và UN Women giúp đảm bảo rằng, yếu tố bình đẳng giới được lồng ghép ngay từ khi thiết kế các công cụ kỹ thuật cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng (thị trường carbon, hệ thống kiểm kê khí nhà kính/MRV, kế hoạch thích ứng khí hậu). Trong giai đoạn tới, Cục Biến đổi khí hậu đề nghị các đối tác tiếp tục tập trung vào 3 trọng tâm: hoàn thiện thể chế gắn với nâng cao năng lực thực thi; hỗ trợ các sáng kiến kinh tế phát thải thấp và sinh kế thích ứng; xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá đáp ứng giới thông qua thu thập và phân tích dữ liệu tách biệt theo giới tính và độ tuổi (SADD).

Tại phiên thảo luận bàn tròn, các đại biểu đã phân tích rào cản cụ thể trong việc chuyển hóa cam kết chính sách thành hành động thực tế, rào cản của phụ nữ khi tiếp cận các sản phẩm tài chính xanh và giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ.

Bà Maria Holtsberg, Phó Giám đốc UN Women khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nhận định, Việt Nam đang chuyển dịch trọng tâm từ nâng cao nhận thức sang triển khai các giải pháp bình đẳng giới trên diện rộng. Trong thời gian tới, Việt Nam cần đẩy mạnh đưa chính sách vào thực tiễn bằng cách thu hẹp khoảng trống ngân sách, nâng cao năng lực địa phương và trao quyền thực chất cho phụ nữ ở cấp cơ sở. Đặc biệt, các hoạt động hỗ trợ mô hình kinh doanh nhỏ lẻ cần được nâng tầm để xây dựng một hệ sinh thái tài chính và thị trường bền vững.

Nguồn: Nông nghiệp môi trường

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *