Hội thảo tập trung nhận diện những điểm nghẽn trong tổ chức sản xuất, liên kết tiêu thụ và khả năng mở rộng quy mô HTX, qua đó đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị nông sản của HTX.

Từ quy mô nhỏ đến yêu cầu tham gia sâu vào chuỗi giá trị

Sáng 2/10, tại Ninh Bình, Viện Khoa học Kinh tế hợp tác phối hợp với Liên minh HTX tỉnh Ninh Bình tổ chức hội thảo khoa học “Thực trạng phát triển các HTX nông nghiệp tham gia chuỗi giá trị nông sản tại khu vực đồng bằng sông Hồng”.

Ông Đỗ Xuân Trường, Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Ninh Bìnhphát biểu tại buổi Hội thảo

Hội thảo nằm trong khuôn khổ nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2026 “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp xây dựng HTX nông nghiệp quy mô lớn gắn sản xuất, tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị sản phẩm tại khu vực đồng bằng sông Hồng” do Viện Khoa học Kinh tế hợp tác chủ trì.

Theo tài liệu nghiên cứu, đến cuối năm 2025, cả nước có 21.489 HTX nông nghiệp, trong đó khoảng 14.500 HTX hoạt động hiệu quả, chiếm 67,4%. Doanh thu bình quân đạt khoảng 2,7 tỷ đồng/HTX/năm; lợi nhuận gần 450 triệu đồng và thu nhập bình quân của lao động thường xuyên khoảng 56 triệu đồng/năm.

Tuy nhiên, theo ông Lê Tuấn An, Viện trưởng Viện Khoa học Kinh tế hợp tác, phần lớn HTX nông nghiệp vẫn có quy mô nhỏ hoặc siêu nhỏ, vốn hạn chế, phạm vi hoạt động hẹp và sức cạnh tranh chưa cao. Liên kết giữa thành viên với HTX, giữa HTX với doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác ở nhiều nơi chưa ổn định, khiến HTX khó đảm nhận đồng bộ các khâu từ tổ chức vùng nguyên liệu, sản xuất, kiểm soát chất lượng đến sơ chế, bảo quản, tiêu thụ và xây dựng thương hiệu.

Ông Lê Tuấn An, Phó Viện trưởng phụ trách Viện Khoa học Kinh tế hợp tác phát biểu tại buổi Hội thảo

Đối với đồng bằng sông Hồng, bài toán quy mô càng rõ khi sản xuất còn manh mún, nguồn lực phân tán. Trong khi đó, thị trường ngày càng đòi hỏi cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn sản phẩm và khả năng cung ứng ổn định. Quy mô nhỏ vì vậy không chỉ hạn chế sức cạnh tranh mà còn làm giảm khả năng đàm phán của HTX với doanh nghiệp và đối tác thị trường.

Phát biểu tại hội thảo, ông Đinh Trường Sơn, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Ninh Bình, cho rằng không gian phát triển mới sau sắp xếp đơn vị hành chính mở thêm dư địa kết nối vùng sản xuất với công nghiệp chế biến, thương mại, dịch vụ, du lịch và logistics. Để tận dụng lợi thế này, HTX phải đổi mới phương thức hoạt động, nâng năng lực quản trị và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Ông Đinh Trường Sơn, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Ninh Bìnhphát biểu tại buổi Hội thảo

HTX phải chuyển từ tổ chức sản xuất sang tổ chức thị trường

Thực tiễn triển khai Nghị định 98/2018/NĐ-CP cho thấy vai trò của HTX trong liên kết sản xuất, tiêu thụ ngày càng rõ. Sau 6 năm thực hiện, cả nước có 2.938 dự án, kế hoạch liên kết được phê duyệt, với sự tham gia của 2.412 HTX, 538 tổ hợp tác, 1.305 doanh nghiệp và hơn 211.000 hộ nông dân; HTX chủ trì 2.331 dự án, kế hoạch.

Thông qua liên kết, HTX có điều kiện tập hợp nông dân, hình thành vùng nguyên liệu, thống nhất quy trình sản xuất, kiểm soát chất lượng và kết nối doanh nghiệp. Tuy nhiên, từ “có liên kết” đến “tham gia sâu vào chuỗi” vẫn còn khoảng cách.

Theo ông Đỗ Xuân Trường, Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Ninh Bình, HTX không thể chỉ dừng ở cung ứng dịch vụ đầu vào mà phải chuyển từ “tổ chức sản xuất” sang “tổ chức thị trường”. HTX cần tổ chức vùng nguyên liệu, thống nhất quy trình, kiểm soát chất lượng, kết nối doanh nghiệp, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường.

Đồng quan điểm về yêu cầu nâng năng lực nội tại, ông Lê Tuấn An cho rằng phát triển HTX quy mô lớn không thể chỉ nhìn vào số lượng thành viên hay doanh thu, mà phải gắn với năng lực quản trị, huy động nguồn lực, tổ chức sản xuất và liên kết thị trường. Khi những năng lực này chưa được cải thiện, việc mở rộng quy mô dễ dừng ở tăng về lượng nhưng chưa tạo được chuyển biến về chất.

ThS. Nguyễn Đình Hùng, Phó Viện trưởng, Viện Khoa học Kinh tế hợp tác trình bày báo cáo tại Hội thảo Khoa học

Từ thực tiễn Ninh Bình, ông Đỗ Xuân Trường cho rằng đánh giá HTX cần nhìn vào giá trị tạo ra cho thành viên, số sản phẩm có thị trường ổn định, hợp đồng liên kết và khả năng giữ lại giá trị trong chuỗi.

Theo tài liệu nghiên cứu, HTX nông nghiệp quy mô lớn được xác định trên cơ sở từ 300 thành viên chính thức trở lên và đáp ứng một trong hai điều kiện: doanh thu từ 50 tỷ đồng/năm hoặc tổng nguồn vốn từ 10 tỷ đồng trở lên. Đây là ngưỡng cao đối với phần lớn HTX hiện nay.

Vì vậy, phát triển HTX quy mô lớn cần đặt trong tổng thể từ mở rộng thành viên, tổ chức vùng nguyên liệu đến nâng năng lực quản trị, tài chính, công nghệ và thị trường. Mục tiêu không chỉ là “lớn về quy mô” mà phải “mạnh về năng lực tạo giá trị”.

Khảo sát thực tiễn để tìm điểm nghẽn

Nhiệm vụ nghiên cứu được triển khai tại 6 địa phương gồm Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Yên, Quảng Ninh và Ninh Bình. Nhóm nghiên cứu dự kiến khảo sát 200 HTX nông nghiệp và 600 thành viên, với tổng số 800 phiếu.

Nội dung khảo sát tập trung vào quy mô, năng lực tổ chức sản xuất, liên kết tiêu thụ, mức độ tham gia chuỗi giá trị và khả năng mở rộng quy mô HTX. Việc khảo sát đồng thời HTX và thành viên nhằm làm rõ mức độ gắn kết, lợi ích của các bên và khả năng tổ chức vùng nguyên liệu.

Lãnh đạo tỉnh Ninh Bình đề nghị nghiên cứu không chỉ phản ánh thực trạng mà phải chỉ rõ nguyên nhân khiến HTX khó mở rộng quy mô, chuỗi liên kết dễ đứt gãy và những yếu tố quyết định khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị. Trong đó, cần làm rõ các điểm nghẽn về cơ chế, vốn, đất đai, công nghệ, nhân lực và quan hệ “Nhà nông – HTX – doanh nghiệp”.

Ông Nguyễn Tiến Trí, Chuyên viên chính, đại diện Cục Phát triễn doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể, Bộ Tài chính trình bày báo cáo tại Hội thảo.

Trên cơ sở khảo sát, nhóm nghiên cứu dự kiến lựa chọn 2 HTX tại đồng bằng sông Hồng để thử nghiệm giải pháp đối với nhóm cây lương thực và rau màu, gắn tổ chức quản lý, liên kết chuỗi, xây dựng sản phẩm chủ lực và áp dụng quy trình VietGAP.

Từ “lớn về quy mô” đến “mạnh về năng lực”

Theo định hướng nghiên cứu, các giải pháp tập trung vào cơ cấu tổ chức, phát triển thành viên, quản lý tài chính, tài sản, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số.

Lãnh đạo tỉnh Ninh Bình đề nghị chú trọng đào tạo nhân lực quản lý, ứng dụng khoa học kỹ thuật, sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn, phát triển thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số; đồng thời nghiên cứu chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, tạo động lực để HTX tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Ông Đỗ Xuân Trường đề xuất đổi mới phương thức hỗ trợ HTX theo hướng xác định rõ HTX đang đứng ở đâu trong chuỗi, có thể làm tốt công đoạn nào, cần liên kết với ai và chính sách cần tác động vào điểm nghẽn nào. Theo đó, hỗ trợ HTX cần chuyển từ hỗ trợ đầu vào sang hỗ trợ năng lực, liên kết và thị trường.

Các đại biểu tam dự bbuooir Hội thảo

Ông Lê Tuấn An nhấn mạnh, để HTX thực sự trở thành mắt xích của chuỗi giá trị, cần đồng thời giải quyết những hạn chế về quy mô, vốn, quản trị, công nghệ và liên kết. Đây cũng là cơ sở để nghiên cứu đề xuất mô hình HTX quy mô lớn phù hợp với đặc điểm sản xuất của đồng bằng sông Hồng, thay vì chỉ mở rộng về số lượng thành viên hay doanh thu.

Phát triển HTX vì vậy không chỉ là tăng số lượng thành viên, doanh thu hay sản phẩm, mà phải nâng khả năng tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và tạo giá trị cho thành viên. HTX không nhất thiết tự thực hiện toàn bộ chuỗi, nhưng cần xác định rõ vị trí, lợi thế và công đoạn có thể tạo giá trị cao để chủ động liên kết với doanh nghiệp, ngân hàng, nhà khoa học và các đối tác thị trường.

Mục tiêu cuối cùng là hình thành những HTX đủ năng lực tập hợp nông dân, tổ chức vùng nguyên liệu, kiểm soát chất lượng, kết nối doanh nghiệp và duy trì thị trường ổn định; qua đó nâng giá trị nông sản và lợi ích của thành viên trong chuỗi giá trị.

Hà Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *