Các công trình hạ tầng được đầu tư từ nguồn lực Chương trình góp phần cải thiện điều kiện sản xuất, đi lại và tiếp cận các dịch vụ thiết yếu của người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Những điểm nghẽn từ thực tiễn giải ngân
Trong giai đoạn 2021-2025, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được triển khai trên phạm vi rộng, với nhiều nhóm chính sách, dự án liên quan trực tiếp đến hạ tầng, sinh kế, giảm nghèo, giáo dục, y tế, văn hóa và phát triển nguồn nhân lực. Quy mô và tính đa dạng của các nội dung hỗ trợ đặt ra yêu cầu rất cao đối với công tác lập kế hoạch, phân bổ và giải ngân vốn.
Theo số liệu tổng hợp được sử dụng trong các báo cáo về thực hiện Chương trình, giai đoạn 2022-2024, giải ngân vốn ngân sách trung ương đạt khoảng 48.081,298 tỷ đồng, bằng 72,6% kế hoạch; trong đó vốn đầu tư đạt 29.977,455 tỷ đồng, tương đương 85,6%, còn vốn sự nghiệp đạt 18.103,843 tỷ đồng, bằng 58%. Lũy kế đến ngày 31/8/2025, tổng giải ngân đạt khoảng 57.974,096 tỷ đồng, bằng 64,6% kế hoạch lũy kế; vốn đầu tư đạt 36.132,973 tỷ đồng, bằng 73,5%, trong khi vốn sự nghiệp đạt 21.841,123 tỷ đồng, bằng 53,84%.
Những con số trên cho thấy một đặc điểm khá rõ của quá trình thực hiện Chương trình: khả năng giải ngân vốn đầu tư có xu hướng tốt hơn vốn sự nghiệp. Đây không chỉ là vấn đề về tiến độ thanh toán mà còn phản ánh sự khác biệt về tính chất, quy trình và điều kiện tổ chức thực hiện giữa hai nhóm nguồn vốn.
Vốn đầu tư thường gắn với các dự án, công trình có quy trình chuẩn bị tương đối rõ, trong khi vốn sự nghiệp liên quan đến nhiều chính sách hỗ trợ trực tiếp, phát triển sinh kế, đào tạo, truyền thông, nâng cao năng lực và các hoạt động có đối tượng thụ hưởng biến động theo thực tế. Khi số hộ nghèo giảm, địa bàn đặc biệt khó khăn thay đổi hoặc điều kiện thực hiện chính sách chưa đáp ứng, khả năng hấp thụ vốn sự nghiệp cũng bị ảnh hưởng.
Năm 2025 tiếp tục cho thấy sự khác biệt này. Kế hoạch vốn ngân sách trung ương giao cho Chương trình là hơn 34.235 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư khoảng 17.182 tỷ đồng và vốn sự nghiệp khoảng 17.054 tỷ đồng. Đến ngày 31/8/2025, vốn đầu tư giải ngân khoảng 7.589 tỷ đồng, đạt 44,2% kế hoạch, trong khi vốn sự nghiệp mới đạt khoảng 3.962 tỷ đồng, tương đương 23,2% dự toán.
Tuy nhiên, nhìn lại cả giai đoạn, không thể phủ nhận xu hướng cải thiện đáng kể của giải ngân vốn đầu tư. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư của Chương trình từ mức khoảng 25,6% năm 2022 đã tăng lên khoảng 82% năm 2023 và 85% năm 2024. Kết quả này cho thấy khi cơ chế, thủ tục đầu tư dần được hoàn thiện, cùng với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương, tiến độ thực hiện có thể được cải thiện rõ rệt.
Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cũng bộc lộ nhiều nguyên nhân làm chậm tiến độ. Công tác chuẩn bị đầu tư tại một số địa phương chưa sát thực tế; việc xác định nhu cầu và đối tượng thụ hưởng phải điều chỉnh nhiều lần; một số nội dung, chính sách chưa có định mức hoặc hướng dẫn kịp thời. Việc giảm nhanh số hộ nghèo và số xã, thôn đặc biệt khó khăn so với thời điểm xây dựng kế hoạch cũng làm thay đổi nhu cầu thực tế.
Đáng chú ý, quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp trong năm 2025 cũng tác động đến việc tổ chức thực hiện tại cơ sở. Khi đầu mối, nhiệm vụ và phương thức quản lý thay đổi, việc bàn giao hồ sơ, xác định chủ đầu tư, điều chỉnh kế hoạch và phân bổ nguồn lực ở một số nơi cần thêm thời gian.
Những hạn chế trên cho thấy giải ngân chậm không thể chỉ được nhìn nhận như vấn đề “thiếu quyết tâm” của cơ quan thực hiện. Đằng sau một tỷ lệ giải ngân thấp có thể là cả chuỗi nguyên nhân từ khâu thiết kế chính sách, phân bổ vốn, xác định đối tượng, chuẩn bị dự án, hướng dẫn nghiệp vụ đến năng lực tổ chức thực hiện tại cơ sở.
Hoàn thiện thể chế để khơi thông dòng vốn
Một trong những bài học lớn của giai đoạn 2021-2025 là tiến độ ban hành và đồng bộ của hệ thống văn bản hướng dẫn có ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ giải ngân. Nếu quy định về đối tượng, nội dung hỗ trợ, định mức, quy trình lập kế hoạch và thanh quyết toán chưa rõ, địa phương khó có thể chủ động triển khai ngay cả khi nguồn vốn đã được bố trí.
Đây là vấn đề được đặt ra ngay từ đầu giai đoạn mới. Theo Quyết định số 417/QĐ-BNNMT ngày 31/1/2026 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng DTTS&MN giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I từ năm 2026 đến năm 2030, Chương trình gồm hai hợp phần. Hợp phần thứ nhất là các nội dung chung thực hiện trên phạm vi cả nước; hợp phần thứ hai là các nội dung đặc thù phát triển kinh tế – xã hội vùng DTTS&MN, gồm 5 nội dung thành phần và 23 nội dung cụ thể. Cách thiết kế này tạo điều kiện để các chính sách đặc thù đối với vùng DTTS&MN được tổ chức trong một cấu trúc thống nhất, đồng thời có sự liên kết với các nhiệm vụ chung của Chương trình.
Đặc biệt, ngày 4/6/2026, Bộ Dân tộc và Tôn giáo ban hành Thông tư số 02/2026/TT-BDTTG hướng dẫn một số nội dung thuộc Hợp phần thứ hai. Thông tư hướng dẫn các nhóm nhiệm vụ về đầu tư cơ sở hạ tầng đặc thù; hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo sinh kế, nâng cao thu nhập; phát triển nguồn nhân lực; hỗ trợ các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù; truyền thông, phổ biến pháp luật, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Việc ban hành văn bản hướng dẫn chuyên ngành này góp phần cụ thể hóa các nội dung chính sách, tạo cơ sở để địa phương tổ chức thực hiện.
Cùng với đó, cơ chế tài chính cũng từng bước được hoàn thiện. Quyết định số 16/2026/QĐ-TTg ngày 15/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình. Bộ Tài chính đang hướng dẫn việc quản lý, sử dụng, thanh toán và quyết toán kinh phí chi thường xuyên theo cơ chế mới, trên cơ sở Luật Ngân sách nhà nước năm 2025, Nghị định số 358/2025/NĐ-CP và các văn bản liên quan.
Như vậy, so với giai đoạn trước, vấn đề không chỉ là “có vốn hay chưa” mà còn là xây dựng một chuỗi thể chế đủ đồng bộ để vốn có thể vận động từ khâu lập kế hoạch đến khâu thanh toán, quyết toán và đánh giá kết quả.
Từ tích hợp chương trình đến đổi mới phương thức giải ngân
Một thay đổi có ý nghĩa căn bản đối với giai đoạn mới là Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 46/2026/QH16 ngày 24/8/2026, phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035.
Theo định hướng của Nghị quyết 46, bốn chương trình mục tiêu quốc gia được tích hợp nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo, dàn trải, thu gọn đầu mối quản lý, đơn giản hóa thủ tục, tăng khả năng lồng ghép nguồn lực và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách. Việc tích hợp không làm thay đổi, thu hẹp mục tiêu, phạm vi và đối tượng của các chương trình đã được Quốc hội quyết định mà tổ chức lại cấu trúc và phương thức quản lý theo nhóm vấn đề.
Điểm đáng chú ý là Nghị quyết 46 đặt việc phân cấp mạnh cho địa phương trong mối quan hệ với quản lý theo mục tiêu, giám sát và đánh giá kết quả. Theo đó, nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” được xác định là một trong những định hướng quan trọng của cơ chế mới.
Đối với công tác giải ngân, đây là thay đổi có ý nghĩa trực tiếp. Khi địa phương được chủ động hơn trong lựa chọn nội dung, sắp xếp thứ tự ưu tiên và lồng ghép nguồn lực, việc triển khai có thể sát hơn với đặc điểm của từng địa bàn. Tuy nhiên, quyền chủ động chỉ thực sự phát huy tác dụng khi đi cùng năng lực lập kế hoạch, xác định nhu cầu và chịu trách nhiệm về kết quả.
Vì vậy, giải ngân trong giai đoạn 2026-2030 cần được tiếp cận theo hướng quản lý theo mục tiêu và kết quả, thay vì chỉ chú trọng tốc độ thanh toán. Một địa phương giải ngân nhanh nhưng lựa chọn dự án chưa sát nhu cầu, công trình hoạt động kém hiệu quả hoặc chính sách hỗ trợ không tạo được sinh kế bền vững thì chưa thể coi là thành công.
Ngược lại, việc giải ngân cần được đánh giá cùng với những kết quả thực chất: bao nhiêu công trình hoàn thành và phát huy hiệu quả; bao nhiêu hộ có sinh kế ổn định; thu nhập người dân thay đổi ra sao; tỷ lệ hộ nghèo giảm như thế nào; khả năng tiếp cận giáo dục, y tế, nước sạch, giao thông và các dịch vụ thiết yếu được cải thiện đến đâu.
Tăng trách nhiệm địa phương, nâng chất lượng hấp thụ vốn
Phân cấp mạnh là một trong những giải pháp quan trọng để giải quyết tình trạng chậm giải ngân, nhưng cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với chính quyền địa phương.
Quyết định 417 xác định trách nhiệm của địa phương trong việc rà soát nhu cầu, phân kỳ đầu tư, bố trí nguồn lực đối ứng, tổ chức thực hiện và bảo đảm hiệu quả của các dự án. Việc phân cấp, trao quyền phải gắn với kiểm tra, giám sát, đánh giá và trách nhiệm giải trình.
Đây cũng là lý do cần chuyển mạnh từ cách thức điều hành theo hồ sơ, thủ tục sang quản trị dựa trên dữ liệu. Thông tư số 04/2026/TT-BDTTG ngày 31/7/2026 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo (có hiệu lực từ ngày 15/9/2026) hướng dẫn quản lý, theo dõi trình độ phát triển vùng DTTS&MN giai đoạn 2026-2030; trong đó có yêu cầu tích hợp, liên thông dữ liệu liên quan đến mục tiêu và hoạt động trên địa bàn vùng DTTS&MN từ hệ thống thông tin quản lý Chương trình với các hệ thống khác có liên quan.
Việc hình thành hệ thống dữ liệu thống nhất có ý nghĩa đặc biệt đối với giải ngân. Khi dữ liệu về địa bàn, đối tượng thụ hưởng, mức độ phát triển, nhu cầu đầu tư và tiến độ thực hiện được cập nhật đầy đủ, việc lập kế hoạch vốn sẽ sát thực tế hơn, hạn chế tình trạng giao vốn nhưng không có khả năng hấp thụ hoặc phải điều chỉnh nhiều lần.
Bên cạnh đó, cần đặc biệt quan tâm đến năng lực của cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Phân cấp vốn và nhiệm vụ cho cơ sở mà không đồng thời nâng cao năng lực lập kế hoạch, quản lý đầu tư, tài chính – ngân sách và giám sát sẽ có thể tạo ra điểm nghẽn mới.
Do đó, cùng với giao quyền, cần tăng cường đào tạo, hướng dẫn nghiệp vụ và hỗ trợ kỹ thuật cho cán bộ trực tiếp thực hiện. Những địa bàn khó khăn, địa bàn mới sắp xếp tổ chức hành chính hoặc có năng lực quản lý còn hạn chế cần được hỗ trợ ngay từ khâu chuẩn bị kế hoạch thay vì chờ đến khi phát sinh vướng mắc trong giải ngân.
Chủ động xử lý vốn chuyển tiếp, không để gián đoạn chính sách
Một vấn đề có ý nghĩa trực tiếp trong năm 2026 là xử lý nguồn vốn còn lại của giai đoạn trước. Nghị quyết số 265/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội cho phép kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân nguồn vốn ngân sách nhà nước năm 2025, bao gồm vốn các năm 2021-2024 được chuyển nguồn sang năm 2025, đến hết ngày 31/12/2026 đối với các chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng DTTS&MN. Bộ Tài chính đã hướng dẫn rõ rằng sau khi kết thúc năm 2025 phải thực hiện đối chiếu, chuyển nguồn và quyết toán theo quy định để tiếp tục giải ngân trong năm 2026.
Đây là cơ chế chuyển tiếp quan trọng, giúp hạn chế tình trạng nguồn vốn đã được bố trí nhưng phải dừng lại khi kết thúc một giai đoạn chính sách. Tuy nhiên, việc kéo dài thời gian giải ngân không nên được hiểu là kéo dài một cách cơ học các dự án, nhiệm vụ chậm thực hiện. Các địa phương cần rà soát từng khoản vốn, xác định rõ khả năng hoàn thành, những nhiệm vụ cần tiếp tục, những nhiệm vụ không còn phù hợp để xử lý theo đúng quy định.
Đồng thời, phải tránh tâm lý chạy theo tỷ lệ giải ngân vào cuối kỳ. Giải ngân bằng mọi giá có thể dẫn đến lựa chọn dự án chưa đủ điều kiện, chất lượng công trình không bảo đảm hoặc sử dụng nguồn lực không đúng mục tiêu. Điều quan trọng là giải ngân đúng quy định, đúng đối tượng, đúng mục tiêu và tạo ra kết quả thực chất.
Thực tế triển khai năm 2026 cho thấy yêu cầu này vẫn rất cấp thiết. Theo Bộ Tài chính, đến ngày 28/5/2026, tổng số vốn ngân sách nhà nước năm 2025 được kéo dài sang năm 2026 đã làm thủ tục kéo dài là hơn 17.241 tỷ đồng. Tuy nhiên, lũy kế giải ngân vốn đầu tư công đến hết ngày 31/5/2026 mới đạt khoảng 1.597 tỷ đồng, tương đương 14,3% kế hoạch; riêng Chương trình phát triển kinh tế – xã hội vùng DTTS&MN giải ngân khoảng 591 tỷ đồng, đạt 15,7%.
Những con số đầu năm cho thấy các điểm nghẽn của giai đoạn trước chưa thể được khắc phục ngay trong thời gian ngắn. Bởi vậy, bên cạnh việc hoàn thiện văn bản, cần theo dõi sát tiến độ phân bổ và giải ngân ngay từ những tháng đầu năm, kịp thời xác định địa phương, dự án và nội dung có nguy cơ chậm để có phương án tháo gỡ.
Giai đoạn 2026-2030 đang mở ra một cách tiếp cận mới: tích hợp các chương trình, giảm đầu mối, tăng phân cấp, quản lý theo mục tiêu, tăng cường dữ liệu và trách nhiệm giải trình. Nghị quyết 46/2026/QH16 tạo khung chính sách tổng thể; Quyết định 417/QĐ-BNNMT cụ thể hóa Chương trình đối với nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng DTTS&MN; các văn bản của Bộ Tài chính tạo cơ sở cho quản lý, phân bổ, thanh toán và quyết toán nguồn lực; trong khi Bộ Dân tộc và Tôn giáo tiếp tục hoàn thiện cơ chế hướng dẫn đối với các nội dung đặc thù vùng DTTS&MN.
Để những cơ chế mới thực sự phát huy tác dụng, trước hết cần bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống hướng dẫn, hạn chế tối đa khoảng trống pháp lý khi địa phương bắt đầu triển khai. Tiếp đó, phải nâng cao chất lượng lập kế hoạch, dự báo nhu cầu và lựa chọn dự án; giao vốn sớm, sát khả năng thực hiện; tăng cường hỗ trợ kỹ thuật cho cấp xã và những địa bàn khó khăn.
Cùng với đó, cần thiết lập cơ chế theo dõi giải ngân theo thời gian thực, gắn số liệu giải ngân với tiến độ thực hiện và kết quả đầu ra. Các địa phương có tỷ lệ giải ngân thấp phải xác định rõ nguyên nhân và trách nhiệm; những địa phương có cách làm hiệu quả cần được tổng kết, chia sẻ kinh nghiệm. Công tác thanh tra, kiểm tra cũng cần chuyển mạnh sang phòng ngừa rủi ro, phát hiện sớm điểm nghẽn thay vì chỉ xử lý khi đã phát sinh sai phạm.
Quan trọng hơn, cần đặt người dân ở vị trí trung tâm của đánh giá hiệu quả. Một khoản kinh phí chỉ thực sự có ý nghĩa khi trở thành con đường, trường học, công trình nước sạch, mô hình sinh kế, cơ hội học nghề, việc làm và những điều kiện tốt hơn cho cuộc sống của đồng bào./.
Thu Ngân