Trong bối cảnh các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường ngày càng được siết chặt, việc lập và trình thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường là bước bắt buộc đối với nhiều dự án đầu tư trước khi triển khai. Sau khi hoàn thiện báo cáo đánh giá tác động môi trường, nhiều chủ dự án, tổ chức và cá nhân vẫn còn băn khoăn về hồ sơ cần chuẩn bị, quy trình thẩm định được thực hiện ra sao và thời gian giải quyết kéo dài trong bao lâu theo quy định hiện hành. Thực tế, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường không chỉ là khâu kiểm tra về mặt thủ tục mà còn là quá trình xem xét toàn diện mức độ tác động của dự án đến môi trường tự nhiên, xã hội, từ đó làm căn cứ để cơ quan có thẩm quyền đưa ra quyết định phê duyệt hoặc yêu cầu chỉnh sửa, bổ sung. Việc nắm rõ quy định về hồ sơ, trình tự, cách thức và thời hạn thẩm định sẽ giúp chủ dự án chủ động hơn trong quá trình thực hiện, hạn chế phát sinh vướng mắc, kéo dài thời gian và đảm bảo dự án được triển khai đúng quy định của pháp luật về môi trường.

Căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 34 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, hồ sơ đề nghị thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường được xác định rõ nhằm bảo đảm việc xem xét, đánh giá được thực hiện đầy đủ, thống nhất và đúng quy trình. Theo đó, hồ sơ đề nghị thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường bao gồm văn bản đề nghị thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường do chủ dự án lập, trong đó thể hiện rõ thông tin dự án và đề nghị cơ quan có thẩm quyền tổ chức thẩm định; báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được xây dựng theo đúng nội dung, cấu trúc và yêu cầu kỹ thuật theo quy định của pháp luật; cùng với báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc tài liệu tương đương với báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án đầu tư để làm căn cứ đối chiếu, đánh giá sự phù hợp giữa phương án đầu tư và các giải pháp bảo vệ môi trường đề xuất. Đối với các dự án đầu tư xây dựng thuộc đối tượng phải được cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi theo quy định của pháp luật về xây dựng, chủ dự án được phép trình đồng thời hồ sơ đề nghị thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường cùng với hồ sơ đề nghị thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi. Thời điểm nộp hồ sơ do chủ dự án chủ động quyết định nhưng phải bảo đảm thực hiện trước khi cơ quan có thẩm quyền ban hành kết luận thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi, qua đó bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa nội dung đầu tư và các yêu cầu về bảo vệ môi trường ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án.

Căn cứ khoản 3 và khoản 4 Điều 34 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ, bảo đảm tính khách quan, khoa học và phù hợp với đặc thù của từng dự án đầu tư. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền thẩm định sẽ ban hành quyết định thành lập hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường với số lượng tối thiểu là 7 thành viên. Quyết định thành lập hội đồng được gửi kèm theo báo cáo đánh giá tác động môi trường và báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc tài liệu tương đương đến từng thành viên hội đồng để nghiên cứu trước khi tiến hành thẩm định. Thành phần hội đồng thẩm định phải bảo đảm có ít nhất một phần ba tổng số thành viên là các chuyên gia, trong đó chuyên gia tham gia hội đồng phải có chuyên môn về môi trường hoặc lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến dự án đầu tư và đáp ứng yêu cầu về kinh nghiệm công tác theo quy định, cụ thể là tối thiểu 7 năm đối với người có bằng cử nhân hoặc văn bằng tương đương, tối thiểu 3 năm đối với người có bằng thạc sĩ hoặc văn bằng tương đương và tối thiểu 2 năm đối với người có bằng tiến sĩ hoặc văn bằng tương đương. Để bảo đảm tính độc lập, khách quan, các chuyên gia đã tham gia thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án đầu tư không được tham gia hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của chính dự án đó.
Đối với các dự án đầu tư có hoạt động xả nước thải vào công trình thủy lợi, hội đồng thẩm định bắt buộc phải có sự tham gia của đại diện cơ quan nhà nước quản lý công trình thủy lợi liên quan. Đồng thời, cơ quan thẩm định phải lấy ý kiến bằng văn bản và đạt được sự đồng thuận của cơ quan quản lý công trình thủy lợi trước khi phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường. Trong trường hợp này, cơ quan nhà nước quản lý công trình thủy lợi có trách nhiệm cử thành viên tham gia hội đồng thẩm định và có ý kiến bằng văn bản trong thời hạn lấy ý kiến theo quy định; nếu quá thời hạn mà không có văn bản phản hồi thì được coi là đã đồng thuận với nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường. Mỗi thành viên hội đồng thẩm định có trách nhiệm nghiên cứu đầy đủ hồ sơ đề nghị thẩm định, lập bản nhận xét, đánh giá theo nội dung thẩm định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về ý kiến chuyên môn của mình. Trên cơ sở tổng hợp, xem xét các ý kiến của hội đồng thẩm định cũng như ý kiến của các cơ quan, tổ chức có liên quan nếu có, cơ quan thẩm định sẽ làm căn cứ để quyết định việc phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường. Trường hợp xét thấy cần thiết, cơ quan thẩm định có thể tổ chức khảo sát thực tế, lấy thêm ý kiến của các cơ quan, tổ chức và chuyên gia nhằm bảo đảm việc thẩm định được toàn diện, chính xác.
Bên cạnh đó, Điều 35 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cũng quy định rõ thẩm quyền thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường. Theo quy định này, Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư nhóm I theo khoản 3 Điều 28 của Luật, cũng như các dự án đầu tư nhóm II thuộc các trường hợp đặc thù như dự án thuộc thẩm quyền quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, dự án triển khai trên địa bàn từ hai đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên, dự án nằm trên vùng biển chưa xác định trách nhiệm quản lý hành chính của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc dự án thuộc thẩm quyền cấp phép về khoáng sản, tài nguyên nước, nhận chìm ở biển và giao khu vực biển của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Đối với các dự án đầu tư thuộc bí mật nhà nước về quốc phòng, an ninh, việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường do Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an tổ chức thực hiện. Trong khi đó, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư trên địa bàn, trừ những trường hợp thuộc thẩm quyền của Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc các bộ chuyên ngành nêu trên. Các bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có dự án để tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư hoặc quyết định đầu tư của mình, bảo đảm việc thẩm định được thực hiện thống nhất, đúng quy định pháp luật.

Căn cứ khoản 6 Điều 34 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, thời gian thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường được quy định cụ thể, rõ ràng nhằm bảo đảm tiến độ triển khai dự án đầu tư, đồng thời vẫn đáp ứng yêu cầu xem xét, đánh giá chặt chẽ về các tác động đến môi trường. Theo đó, thời hạn thẩm định được tính kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền nhận đủ hồ sơ hợp lệ của chủ dự án. Đối với các dự án đầu tư nhóm I theo quy định tại khoản 3 Điều 28 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, thời gian thẩm định không quá 45 ngày. Trong khi đó, đối với các dự án đầu tư nhóm II thuộc các trường hợp quy định tại các điểm c, d, đ và e khoản 4 Điều 28 của Luật, thời hạn thẩm định được rút ngắn hơn, không quá 30 ngày, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các dự án có quy mô và mức độ tác động môi trường thấp hơn.
Trong thời hạn thẩm định nêu trên, cơ quan thẩm định có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho chủ dự án đầu tư về kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường. Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định rõ thời gian chủ dự án thực hiện việc chỉnh sửa, bổ sung báo cáo theo yêu cầu của cơ quan thẩm định, cũng như thời gian cơ quan có thẩm quyền xem xét và ban hành quyết định phê duyệt kết quả thẩm định theo khoản 9 Điều 34 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 sẽ không được tính vào thời hạn thẩm định. Điều này nhằm bảo đảm tính khách quan, đầy đủ trong quá trình hoàn thiện hồ sơ, tránh gây áp lực về thời gian dẫn đến việc đánh giá thiếu toàn diện. Ngoài ra, trong những trường hợp đặc biệt, thời hạn thẩm định đối với các dự án đầu tư nhóm I và nhóm II nêu trên còn có thể được kéo dài theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý đối với các dự án có tính chất phức tạp hoặc tác động lớn đến môi trường.
